Chào mừng quý vị đến với website của Phan Thị Hồng Phúc - Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành
viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của
Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Parvo chó

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Phan Thị Hồng Phúc (trang riêng)
Ngày gửi: 15h:50' 29-05-2025
Dung lượng: 3.3 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Phan Thị Hồng Phúc (trang riêng)
Ngày gửi: 15h:50' 29-05-2025
Dung lượng: 3.3 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
KHOA HOÏC KYÕ THUAÄT
JOURNAL OF VETERINARY SCIENCE AND TECHNOLOGY
ISSN 1859 - 4751
Taäp XXVIII
HOÄI THUÙ Y VIEÄT NAM
Soá 8 - 2021
VIETNAM VETERINARY ASSOCIATION
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVIII SỐ 8 - 2021
MUÏC LUÏC
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
• TRẦN ĐỨC HOÀN, NGUYỄN THỊ HƯƠNG GIANG, ĐOÀN THỊ THẢO, BÙI THỊ HƯƠNG,
NGUYỄN THỊ THU HUYỀN, NGUYỄN ĐÌNH NGUYÊN
Một số đặc điểm dịch tễ và biến đổi bệnh lý ở chó mắc bệnh Parvovirus
• PHAN THỊ HỒNG PHÚC, PHẠM THỊ TRANG, TRẦN THẾ HANH, PHAN THANH XUÂN
Đặc điểm dịch tễ ở chó mắc bệnh Parvo và hiệu quả của phác đồ điều trị tại Bệnh xá Thú y,
trường đại học Nông Lâm
• HỒ THY KỲ, NGUYỄN VŨ THỤY HỒNG LOAN
Khảo sát sỏi đường tiết niệu trên mèo tại phòng khám thú y thành phố Hồ Chí Minh
• NGUYỄN HUỲNH KIM HUỆ, NGUYỄN VŨ THỤY HỒNG LOAN
Khảo sát bệnh rối loạn chuyển hóa xương và sỏi urate trên rồng nam mỹ (Iguana) tại Việt Nam
• NGUYỄN THÀNH LUÂN
Nghiên cứu phân tích và so sánh genome của một số chủng virus Corona trong thú y
• LƯU ĐẶC GIA, TRẦN THỊ THẢO, TRẦN NGỌC MỸ HIỀN, TRƯƠNG THỊ HƯƠNG
GIANG, LÊ PHẠM THU HÀ
Bệnh hô hấp trên mèo do Feline calicivirus tại quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ
• ĐẶNG THỊ MAI LAN, ĐỖ ĐỨC THÀNH, PHẠM THÙY LINH
Tình hình nhiễm virus Ca-rê trên chó mang đến khám và điều trị tại phòng khám thú y NPet, 21
Nguyễn Cơ Thạch, Hà Nội
• DƯƠNG NHƯ NGỌC, NGUYỄN THỊ LAN ANH, ĐỖ THỊ THU THÚY, ĐOÀN HỮU HOÀN,
PHẠM THỊ LAN HƯƠNG, VƯƠNG HỮU HUẤN, NGUYỄN THỊ BÍCH THỦY, ĐÀO THỊ
HÀ THANH
Tình hình nhiễm ký sinh trùng đường máu Anaplasma spp. và Babesia spp. trên chó, mèo tại Hà Nội
• NGUYỄN THỊ VÂN ANH, NGUYỄN NGỌC ĐỈNH
Tỷ lệ nhiễm giun đũa Toxocara canis ở chó nuôi và ở người nuôi chó tại thành phố Buôn Ma Thuột
tỉnh Đắk Lắk
• LA THỊ ÁNH MINH, NGUYỄN HỮU HƯNG
Tình hình nhiễm ngoại ký sinh trên chó và thử nghiệm hiệu quả thuốc điều trị tại tỉnh An Giang
• PHẠM MINH THƯ, NGUYỄN LƯƠNG TRƯỜNG GIANG, NGUYỄN ĐỨC HIỀN
Nghiên cứu hợp chất cetylpyridinium chloride và chlorhexidine gluconate trong việc ngăn ngừa
hình thành mảng bám vôi răng trên chó
• BÙI XUÂN PHƯƠNG, TRẦN HỮU CÔI, PHẠM THANH HẢI, ĐINH THẾ DŨNG, NGÔ
QUANG ĐỨC, ĐÀM QUANG TOÀN, NGUYỄN VĂN THANH, TRẦN VĂN NÊN
Một số chỉ tiêu sinh sản và bệnh sản khoa thường gặp ở giống chó bản địa dạng sói (chó Lài Sông Mã)
NÂNG CAO - THAM KHẢO
• NGUYỄN TẤN TÀI, QUÁCH TUYẾT ANH
Giá trị hồng cầu lưới trong bệnh lý thiếu máu
• VŨ KIM CHIẾN
Sỏi urate trên thú nhỏ
5
15
22
27
32
38
44
50
55
61
69
77
86
91
TRAO ĐỔI KHKT - HOẠT ĐỘNG NGÀNH
• HOÀNG THỊ XUÂN MAI
Nhiễm virus bệnh lở mồm long móng ở chó nhà tại Iran
99
3
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVIII SỐ 8 - 2021
ÑAËC ÑIEÅM DÒCH TEÃ ÔÛ CHOÙ MAÉC BEÄNH PARVO VAØ HIEÄU QUAÛ CUÛA
PHAÙC ÑOÀ ÑIEÀU TRÒ TAÏI BEÄNH XAÙ THUÙ Y, TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NOÂNG LAÂM
Phan Thị Hồng Phúc, Phạm Thị Trang, Trần Thế Hanh, Phan Thanh Xuân
Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
TÓM TẮT
Kit test CPV Ag đã được sử dụng để khám nghiệm 1414 con chó đã mang đến khám tại Bệnh xá
Thú y, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 511 con chó dương
tính với Prvovirus, chiếm tỷ lệ 36,14%. Tỷ lệ chó mắc bệnh parvo ở các địa phương giao động từ
32,94% đến 42,68%. Tỷ lệ chết ở chó mắc bệnh parvo là 10,37%. Tỷ lệ mắc bệnh của chó nhập nội
(14,07%) cao hơn chó nội (6,35%). Tỷ lệ mắc bệnh parvo ở chó giảm dần theo tuổi, tỷ lệ mắc có
sự khác biệt rõ rệt ở các nhóm tuổi (P<0,05), trong đó chó dưới 6 tháng tuổi dễ nhiễm bệnh và dễ
chết nhất, tỷ lệ mắc bệnh lên đến 84,36%, tỷ lệ chết 13,25% ở nhóm chó dưới 3 tháng tuổi. Nhóm
chó dưới 6 tháng tuổi có tỷ lệ mắc bệnh là 60,37%, tỷ lệ chết 9,34%. Chó có thể mắc bệnh Parvo ở
tất cả các mùa trong năm, tuy nhiên tỷ lệ mắc cao nhất ở mùa Xuân (49,75%), tiếp đến là mùa Hè
(36,50%), mùa Đông (31,41%), mùa Thu (24,78%). Nhóm chó chưa được tiêm phòng vắc xin parvo
có tỷ lệ mắc bệnh và chết (68,75% - 11,04%) cao hơn rất nhiều so với chó được tiêm phòng vắc xin
(6,60% - 4,08%). Dùng phác đồ 2 điều trị cho chó mắc bệnh parvo đã rút ngắn được thời gian điều
trị và nâng cao hiệu quả điều trị khỏi bệnh (92%).
Từ khoá: Parvovirus, chó, Thái Nguyên, dịch tễ, điều trị.
Epidemiological characteristics in dogs infected with Parvovirosis and
effectiveness of the treatment regimen at veterinary clinic, Thai Nguyen
university of agriculture and forestry
Phan Thi Hong Phuc, Pham Thi Trang, Tran The Hanh, Phan Thanh Xuan
SUMMARY
The canine parvovirus (CPV) antigen test kit was used to test 1414 dogs brough to examination at the Veterinary Clinic, Thai Nguyen University of Agriculture and Forestry. The studied
results showed that 511 dogs were positive with parvovirus, accounting for 36.14%. The prevalence of CPV in localities varied from 32.94% to 42.68%. The mortality rate in the infected dogs
was 10.37%. The CPV prevalence in the exotic dogs was higher than that in the indigenous
dogs (14.07% and 6.35%, respectively). The CPV prevalence in the dogs decreased gradually
by ages, the CPV prevalence was significantly different among the dog age groups (P<0.05), in
which the dogs under 6 months old were most susceptible to the disease and most likely to die,
the morbidity rate of this group was up to 84.36%, the mortality rate was 13.25% in the group
of dogs under 3 months old. In the dog group under 6 months old, the CPV prevalence was
60.37%, the mortality rate was 9.34%. The dogs could infect with parvovirosis in all seasons of
the year, but the highest prevalence was found in the Spring (49.75%), followed by the Summer
(36.50%), in Winter (31.41%), in Autumn (24.78%). The unvaccinated dog group suffered from
PCV with higher prevalence and mortality rate (68.75% and 11.04%, respectively) than those in
the vaccinated dogs (6.60% and 4.08%, respectively). Using regimen 2 to treat the PCV dogs
was shorten the treatment time and increased the treatment efficacy (92%).
Keywords: Parvovirus, dogs, Thai Nguyen, epidemiology, treatment.
15
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVIII SỐ 8 - 2021
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
2.4. Phương pháp nghiên cứu:
Trong những năm gần đây phong trào nuôi chó
cảnh ở thành phố Thái Nguyên đang phát triển rất
mạnh, tuy nhiên việc hiểu biết về cách chăm sóc,
nuôi dưỡng và phòng và trị bệnh cho chó còn hạn
chế, dẫn đến chó thường hay mắc bệnh, đặc biệt là
các bệnh truyền nhiễm, trong đó phải kể đến bệnh
do Parvovirus gây ra. Bệnh Parvovirus trên chó là
một bệnh truyền nhiễm cấp tính nguy hiểm do 3 biến
chủng Canine Parvovirus type 2 (CPV-2) gây ra ở
chó nhà và chó hoang (Miranda và cs, 2016) [10]
. Bệnh thường gặp ở chó 1 – 12 tháng tuổi, với hai
thể là viêm đường ruột và viêm cơ tim. Bệnh có thể
lây qua đường tiêu hoá, qua tiếp xúc với chất thải
của chó mắc bệnh. Chó mắc bệnh thường có biểu
hiện lâm sàng điển hình như: nôn mửa, mệt mỏi, bỏ
ăn, tiêu chảy, phân lẫn máu mùi tanh, tỷ lệ chết rất
cao (Decaro and Buonavoglia, 2012 [3]). Quá trình
khám bệnh cho chó tại bệnh xá Thú y, trường Đại
học Nông Lâm, chúng tôi thấy có nhiều chó có biểu
hiện lâm sàng của bệnh. Để có cơ sở cho việc phòng
và hỗ trợ điều trị bệnh chúng tôi đã tiến hành nghiên
cứu một đặc điểm dịch tễ ở chó mắc bệnh Parvo và
hiệu quả của phác đồ điều trị, từ đó đưa các khuyến
cáo trong phòng và trị bệnh góp phần giảm thiểu
thiệt hại cho người nuôi chó.
- Phương pháp theo dõi và thu thập thông tin:
theo dõi và ghi chép đầy đủ các thông tin cần nghiên
cứu vào sổ khám bệnh bao gồm mã hiệu, giống chó,
nguồn gốc, tính biệt, độ tuổi, các biểu hiện triệu
chứng lâm sàng, thời gian thăm khám và địa điểm
nuôi của các chó đến khám bệnh tại bệnh xá.
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
Cefotaxim sodium: tiêm tĩnh mạch: 25 – 50
mg/kg TT, ngày 2 lần
- Phương pháp xác định bệnh bằng bộ test kit
CPV Ag: lấy tăm bông đưa sâu vào hậu môn của
chó và vê tròn, sau đó cho bông tăm vào ống dung
dịch đệm, vê bông tăm làm cho mầm bệnh hòa vào
dung dịch, làm liên tục 3 lần, chờ khoảng 10 giây,
sau đó lấy ống hút, hút dung dịch nhỏ vào vùng
thử của que test, đọc kết quả sau 10 – 15 phút, nếu
một vạch là âm tính, nếu 2 vạch là dương tính.
- Hiệu quả phác đồ hỗ trợ điều trị bệnh: Chó
dương tính khi thử test CPV Ag được lập bệnh án
theo dõi, ghi chép các biểu hiện lâm sàng và mức
độ tiến triển của bệnh. Chọn ra 100 chó chia làm
2 nhóm (mỗi nhóm 50 chó) điều trị theo 2 phác
đồ như sau:
Phác đồ 1. Dịch truyền: Ringer lactat, đường
glucose 5% 30-50ml/kg thể trọng.
Catosal 10%: tiêm tĩnh mạch 0,5 – 5ml/con
(tuỳ trọng lượng)
2.1. Địa điểm và thời gian nghiên cứu:
Transamin 250 mg: 1-3 ml/con tiêm tĩnh mạch
(tuỳ trọng lượng, nếu chó đi ngoài ra máu)
Địa điểm nghiên cứu: Bệnh xá Thú y, khoa
Chăn nuôi Thú y, trường đại học Nông Lâm Thái
Nguyên, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
Alagin C: 1-5 ml/con ( tuỳ trọng lượng, nếu
chó sốt).
Thời gian nghiên cứu: tháng 6/2020 - 6/2021.
2.2. Đối tượng nghiên cứu:
Bệnh Parvo trên chó đến khám và điều trị tại
Bệnh xá Thú y.
2.3. Nội dung nghiên cứu:
- Nghiên cứu tình hình nhiễm bệnh Parvo trên
chó đến khám và chữa bệnh tại bệnh xá Thú y.
- Hiệu quả điều trị bệnh Parvo trên chó tại
bệnh xá Thú y
16
Phác đồ 2. Như phác đồ 1, bổ sung thêm Probiotics 5mg: cho uống hoặc trộn thức ăn: 2,5 – 10g/
con/ngày
Để đánh giá quá trình phục hồi thể trạng, trạng
thái sinh lý của chó trở lại bình thường, chúng tôi
dựa vào một số chỉ tiêu: giảm ói, giảm tiêu chảy,
tính chất phân thay đổi, ăn uống tỉnh táo, vui vẻ...
hiệu quả điều trị thông qua những chó còn sống và
mức độ phục hồi bệnh.
2.5. Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu thu thập được được xử lý theo phương
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVIII SỐ 8 - 2021
pháp thống kê sinh vật học, theo tài liệu của
Nguyễn Xuân Trạch, Đỗ Đức Lực (2016)[13] và
phần mềm Microsoft Excel 2013.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Tỷ lệ chó mắc bệnh và chết do Parvo
Bảng 1. Tỷ lệ chó mắc bệnh và chết do Parvo
STT
Địa điểm
(Phường)
Số chó đến Số chó mắc
khám (con) Parvo (con)
1
Hoàng Văn Thụ
376
2
Đồng Quang
343
3
Quang Trung
4
Túc Duyên
5
Quang Vinh
Tính chung
Tỷ lệ
(%)
Số chó mắc
bệnh chết (con)
Tỷ lệ chết
(%)
127
33,78
9
7,09
113
32,94
10
8,85
275
96
34,91
9
9,38
252
103
40,87
13
12,62
168
72
42,86
12
16,67
1414
511
36,14
53
10,37
Kết quả bảng 1 cho thấy, dùng phương pháp test
kit CPV Ag cho 1414 chó đến khám tại Bệnh xá Thú
y, có 511 chó dương tính với Prvovirus, chiếm tỷ lệ
36,14%. Tỷ lệ mắc ở các địa phương giao động từ
32,94% đến 42,68%. Kết quả nghiên cứu của chúng
tôi tương đồng với kết qủa nghiên cứu của Nguyễn
Thị Hiếu Dân và cs, 2019 [4] chó nuôi tại Bến Tre tỷ
lệ nhiễm Parvo là 33,33%, tại Tiền Giang là 30,79%
(Trần Văn Thanh và cs 2018 [12]) thấp hơn kết quả
nghiên cứu của Trần Ngọc Bích và cs 2013 [1] tỷ
lệ chó mắc Parvo tại Cần Thơ là 45,10%, tại thành
phố Hồ Chí Minh là 43,30% (Nguyễn Văn Dũng và
cs. (2018)[5]). Kết quả nghiên cứu của chúng tôi và
các tác giả đều cho thấy sự biến động về tỷ lệ mắc
bệnh Parvo ở chó giao động trong các địa điểm và
thời gian nghiên cứu khác nhau.
Trong tổng số 511 chó mắc bệnh đến khám và
chữa bệnh tại bệnh xá thú y đã có 53 chó không qua
khỏi, tỷ lệ chết là 10,37%. Tỷ lệ chó chết giao động
trong khoảng 7,09 – 16,67%, tỷ lệ nhiễm khác biệt
ở các phường, chủ yếu nằm trong nhóm chó từ dưới
6 tháng tuổi. Đặc biệt tại phường Quang Vinh và
Túc Duyên, quá trình thăm khám và chẩn đoán bệnh
chúng tôi thấy người nuôi chó còn thiếu kiến thức về
chăm sóc nuôi dưỡng và phòng bệnh cho chó, nhiều
chủ nuôi chó mới tiêm phòng bệnh dại, còn các bệnh
khác chưa được quan tâm, dẫn đến tỷ lệ chó mắc
bệnh và chết do Parvo là khá cao, đa số các chó chết
là chó chưa được tiêm phòng Parvo. Khi thấy chó
ốm chủ chó thường tự ra hiệu mua thuốc về chữa, khi
chữa bệnh không giảm mới mang đi khám, lúc đó
một số chó đã ở tình trạng bệnh tương đối nặng dẫn
đến khó khăn trong quá trình hỗ trợ điều trị.
3.3. Tỷ lệ chó mắc bệnh Parvo theo giống
Bảng 2. Tỷ lệ chó mắc bệnh Parvo theo giống
Giống chó
Số chó theo
dõi
(con)
Số chó mắc bệnh
Parvo (con)
Tỷ lệ
(%)
Số chó mắc
bệnh chết
(con)
Tỷ lệ chết (%)
Nội
213
63
29,58
4
6,35
Nhập nội
462
199
43,07
28
14,07
Lai
739
249
33,69
21
8,43
Tính chung
1414
511
36,14
53
10,37
Kết quả bảng 2 cho thấy, giống chó nhập nội
mắc bệnh cao nhất, chiếm 43,07%, tiếp đến chó
lai (33,69%) và thấp nhất là chó nội (29,58%).
Quá trình thăm khám chúng tôi thấy chó mang đến
khám chủ yếu là chó nhập nội và chó lai bởi nhu
cầu nuôi chủ yếu của người dân là giải trí, với nhiều
17
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVIII SỐ 8 - 2021
đặc điểm sở thích khác nhau về kiểu lông, màu sắc
lông, về trọng lượng chó… nên nhóm chó này được
quan tâm và được mang tới khám nhiều hơn. Tuy
nhiên tỷ lệ chó ngoại bị bệnh parvo và chết cao hơn
chó nội. Do chó nội thích nghi với điều kiện khí
hậu trong nước tốt hơn so với chó ngoại nên sức đề
kháng cao hơn dẫn đến tỷ lệ mắc bệnh và chết thấp
hơn, hơn nữa quá trình hỏi bệnh chúng tôi thấy một
số người dân mới nuôi chó cảnh lần đầu, chưa hiểu
biết về cách chăm sóc nuôi dưỡng và phòng bệnh
cho chó, khi nói đến đi tiêm vắc xin thường e ngại,
sợ đau và ảnh hưởng đến chó dẫn đến tỷ lệ mắc
bệnh và chết ở nhóm chó nhập nội tăng cao.
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với
kết quả nghiên cứu của Candlish (1998)[2], tất cả các
giống chó đều có nguy cơ nhiễm bệnh do Parvovirus
gây ra nhưng mức độ bệnh trầm trọng khiến chó mau
suy kiệt nhất dễ xảy ra ở các giống chó ngoại.
3.4. Tỷ lệ chó mắc bệnh Parvo theo lứa tuổi
Bảng 3. Tỷ lệ chó mắc bệnh Parvo theo lứa tuổi
Tuổi (tháng)
Số chó theo dõi
(con)
Số chó mắc bệnh
Parvo (con)
Tỷ lệ
(%)
Số chó mắc
bệnh chết
(con)
Tỷ lệ
(%)
≤3
179
151
84,36
20
13,25
> 3-6
492
297
60,37
28
9,43
> 6 - 12
536
54
10,07
4
7,41
> 12
207
9
4,35
1
11,11
Tính chung
1414
511
36,14
53
10,37
Kết quả bảng 3 cho thấy tỷ lệ mắc bệnh giảm
dần theo tuổi, tỷ lệ mắc có sự khác biệt rõ rệt ở
các nhóm tuổi (P<0,05), trong đó chó dưới 3 tháng
tuổi dễ cảm nhiễm bệnh và dễ chết nhất, tỷ lệ mắc
bệnh lên đến 84,36%, tỷ lệ chết 13,25%, từ trên 3
đến 6 tháng tuổi tỷ lệ mắc bệnh là 60,37%, từ trên
6 đến 12 tháng tỷ lệ mắc 10,07% và trên 12 tháng
tuổi tỷ lệ mắc chỉ còn 4,35%.
Nguyên nhân chó ở giai đoạn dưới 3 tháng tuổi
tỷ lệ mắc bệnh Parvo cao nhất (84,36%), do trong
giai đoạn dưới 3 tháng tuổi, đây là giai đoạn chó vừa
được cai sữa mẹ, trong thời gian bú sữa mẹ, chó con
có thể thu được miễn dịch thụ động tự nhiên của chó
mẹ thông qua sữa đầu, chó con thu được miễn dịch
thụ động tự nhiên qua sữa đầu nhưng lượng kháng
thể này giảm dần hoặc không đủ khả năng phòng
bệnh, sau 2 tháng chó thường được cai sữa, đây là
thời kỳ chó dễ bị stress do cai sữa mẹ, thay đổi thức
ăn, môi trường sống thay đổi… hơn nữa giai đoạn
này hệ thống miễn dịch của chó chưa hoàn thiện,
sinh lý của con vật thay đổi..., do vậy khi virus Parvo
xâm nhập vào cơ thể, hệ thống miễn dịch của cơ thể
không có khả năng sản sinh ra kháng thể chống lại
tác nhân gây bệnh nên dễ cảm nhiễm mầm bệnh. Ở
giai đoạn này một số người nuôi chó cũng ngại tâm
18
lý chó còn nhỏ chưa cho tiêm phòng Parvo ngay dẫn
đến tỷ lệ chết cũng tăng cao 13,25%.
Giai đoạn 3 đến 6 tháng tuổi, giai đoạn này
chó sinh trưởng phát triển nhanh nên năng lượng
hầu hết phục vụ cho quá trình sinh trưởng gây ảnh
hưởng đến sức đề kháng của con vật, khả năng đáp
ứng miễn dịch của chó trong giai đoạn này chưa
cao. Đối với những chó đã được tiêm phòng thì có
khả năng bảo hộ với bệnh. Tuy nhiên những con
không được tiêm phòng hoặc tiêm phòng không
đúng thời điểm sẽ dễ cảm nhiễm bệnh. Vì vậy, tỷ
lệ mắc bệnh của chó ở giai đoạn này cao (60,37%).
Chó trên 12 tháng tuổi tỷ lệ mắc bệnh thấp
(4,35%), ở giai đoạn này chó đã trưởng thành, đã
dần thích nghi với môi trường, điều kiện chăm sóc,
nuôi dưỡng nên sức đề kháng tốt hơn với bệnh.
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương đương
kết qủa nghiên cứu của Nguyễn Thị Hiếu Dân và cs,
2019, tác giả cho biết: chó dưới 4 tháng tuổi tỷ lệ
mắc bệnh là 82,63%, sau đó giảm dần theo tuổi. Cao
hơn kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Quyên và
cs. (2018)[11], tỷ lệ nhiễm bệnh Parvovirus cao nhất
ở giai đoạn từ 2 - 6 tháng tuổi (51,35%). Về mặt lâm
sàng, bệnh viêm ruột do Parvovirus gây ra ít khi xảy
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVIII SỐ 8 - 2021
ra ở chó trưởng thành, khỏe mạnh trên 1 năm tuổi và
chó con dưới 1 tháng tuổi. Vì cả hai giai đoạn này,
sự nhân lên của tế bào biểu mô hốc thấp đồng thời
kháng thể thụ động mẹ truyền còn cao. Đặc biệt đối
với chó ở giai đoạn >2 tháng tuổi là mẫn cảm nhất
vì lúc này kháng thể do mẹ truyền sang qua sữa đầu
đã bắt đầu giảm dần hoặc do chó mẹ không có miễn
dịch trong thời gian nuôi con, những kháng thể này
sẽ được loại thải hết trong khoảng 6-10 tuần tuổi, lúc
này chó dễ cảm thụ bệnh nhất.
Như vậy mặc dù có sự khác nhau về tỷ lệ mắc
bệnh ở các địa điểm khác nhau trong cùng nhóm
tuổi, nhưng các kết quả nghiên cứu đều cho thấy
chó dưới 6 tháng tuổi tỷ lệ mắc bệnh cao nhất, sau
đó giảm dần theo tuổi, sự khác biệt này có ý nghĩa
thống kê (P<0,05).
3.5. Tỷ lệ chó mắc bệnh Parvo theo mùa vụ
Bảng 4. Tỷ lệ chó mắc bệnh Parvo theo mùa vụ
Mùa vụ
Số chó theo dõi
(con)
Số chó mắc bệnh
Parvo (con)
Tỷ lệ
(%)
Số chó mắc
bệnh chết
(con)
Tỷ lệ
(%)
Xuân
398
198
49,75
33
16,67
Hè
326
119
36,50
8
6,72
Thu
343
85
24,78
3
3,53
Đông
347
109
31,41
9
8,26
Tính chung
1414
511
36,14
53
10,37
Kết qủa bảng 5 cho thấy, chó có thể mắc bệnh
Parvo ở tất cả các mùa trong năm, tuy nhiên tỷ
lệ mắc và chết cao nhất ở mùa Xuân (49,75% và
16,67%), tiếp đến là mùa Hè (36,50%), mùa Đông
(31,41%), mùa Thu (24,78%) tỷ lệ mắc thấp hơn.
Sự sai khác này có ý nghĩa thống kê (P<0,05). Sở
dĩ ở mùa Xuân chó mắc bệnh Parvo là cao nhất vì
đây là thời điểm độ ẩm tương đối cao, trời nồm, thời
tiết ẩm tạo điều kiện thuận lợi cho virus tăng về số
lượng, độc lực, dễ dàng phát tán ra môi trường làm
cho chó dễ mắc bệnh, đặc biệt là chó con. Mùa Thu
thời tiết khô mát, biên độ thời tiết thay đổi không
nhiều phù hợp với đặc điểm sinh lý phát triển của
chó. Chính vì điều này người nuôi chó phải chú ý
đưa chó đi tiêm phòng nhóm bệnh truyền nhiễm
theo định kỳ và đúng lịch tiêm chủng cho chó, tránh
trường hợp tiêm muộn hoặc bỏ qua giai đoạn tiêm
dẫn đến chó mắc bệnh cao và dễ tử vong.
3.6. Tỷ lệ chó mắc bệnh Parvo ở chó được tiêm
phòng và chó chưa tiêm phòng
Bảng 6. Tỷ lệ chó mắc bệnh Parvo ở chó được tiêm phòng và chó chưa tiêm phòng
Số mũi tiêm
vắc xin Parvo
Số chó
khảo sát (con)
Số chó
mắc bệnh
Parvo (con)
Tỷ lệ
(%)
Số chó mắc
bệnh chết
(con)
Tỷ lệ chết
(%)
Chưa tiêm phòng
672
462
68,75
51
11,04
Đã tiêm phòng
742
49
6,60
2
4,08
Tính chung
1414
511
36,14
53
10,37
Kết quả bảng 6 cho thấy sự khác biệt về tỷ lệ mắc
bệnh giữa chó đã được tiêm phòng và chó chưa được
tiêm phòng (P < 0,05), chó chưa được tiêm phòng
vắc xin có tỷ lệ mắc bệnh cao (68,75%), chó được
tiêm phòng vắc xin tỷ lệ mắc bệnh là 6,60%. Tỷ lệ
chó chết chưa tiêm phòng là 11,04% và chó tiêm
phòng là 4,08%. Sự sai khác này có ý nghĩa thống
kê (P<0,05). Kết quả trên cho thấy việc phòng bệnh
bằng vắc xin có hiệu quả tích cực trong việc làm
giảm khả năng nhiễm virus và chết ở chó. Kết quả
19
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVIII SỐ 8 - 2021
nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với nghiên cứu
của Sử Thanh Long và cs 2014 [6] Kết quả nghiên
cứu của Ling và cs (2012) [7] cho biết, chó vẫn mắc
bệnh và chết do Parvovirus là 3,3% mặc dù đã được
tiêm phòng đủ trong vòng 12 tháng.
nuôi tiêm phòng không đầy đủ cho chó, do tiêm
phòng không đúng quy trình, do bảo quản vắc xin
không đúng cách làm mất hiệu lực của vắc xin, do
sức đề kháng của từng cá thể chó khác nhau, do chế
độ chăm sóc nuôi dưỡng của chủ vật nuôi. Một số
người chăn nuôi không mang chó đến tiêm phòng ở
các cơ sở thú y mà tự mua vắc xin ở chợ về tiêm cho
chó, quá trình mang về bảo quản vắc xin không đúng
sẽ làm cho vắc xin giảm hoặc không có hiệu lực.
Qua khảo sát chúng tôi thấy nhiều chó đến
khám tại bệnh xá đều chưa được tiêm phòng vắc
xin hoặc tiêm phòng vắc xin không đầy đủ. Điều
này cho thấy ý thức phòng bệnh của người nuôi chó
chưa cao. Bên cạnh đó có nhiều chủ nuôi coi chó là
thú cưng trong nhà, được nuôi và chăm sóc rất cẩn
thận. Họ nghĩ rằng: chó được nuôi trong môi trường
an toàn không tiếp xúc với mầm bệnh bên ngoài sẽ
không mắc bệnh nên không cần phải tiêm phòng
hoặc tiêm phòng sẽ làm đau và có hại cho chó.
Kết quả khảo sát cho thấy tiêm phòng vắc xin có
hiệu quả, đối với những chó đã được tiêm phòng vắc
xin nguy cơ mắc bệnh thấp hơn. Tuy nhiên việc tiêm
phòng vắc xin không phải là an toàn tuyệt đối.
Vì vậy, tiêm phòng vắc xin cho chó rất quan
trọng, bên cạnh đó cần chú ý đến cách sử dụng,
bảo quản vắc xin và cách chăm sóc nuôi dưỡng để
việc tiêm phòng đạt hiệu quả cao hơn.
Có 6,06% chó được tiêm phòng những vẫn mắc
bệnh và có 4,08 chó được tiêm phòng nhưng vẫn
chết, có thể do những nguyên nhân như hiện nay có
nhiều type trong khi vắc xin thông thường chỉ chỉ
phòng hộ được 1 type (Martella và cs, 2005 [9]),
hoặc tiêm phòng chưa đúng cách, hoặc do người
3.7. Hiệu quả của phác đồ điều trị bệnh Parvo
cho chó
Bảng 7. Hiệu quả của phác đồ điều trị bệnh Parvo cho chó
Địa điểm
Số con điều trị
(con)
Số con khỏi
(con)
Tỷ lệ khỏi
(%)
Thời gian điều trị
(ngày)
Phác đồ 1
50
42
84,00
6,02 ± 0,11
Phác đồ 2
50
46
92,00
5,06 ± 0,12
Chúng tôi đã tiến hành điều trị cho tất cả chó bệnh
theo phác đồ chung của bệnh xá. Để đánh giá hiệu
quả của hai phác đồ, chúng tôi chọn ra mỗi nhóm 50
chó và tiến hành theo dõi, điều trị. Kết quả cho thấy:
Phác đồ 1: dùng Ringer lactat, đường glucose
5% 30-50ml/kg thể trọng. Catosal 10%, tiêm tĩnh
mạch 0,5 – 5ml/con (tuỳ trọng lượng). Cefotaxim
sodium tiêm tĩnh mạch 25 – 50 mg/kg TT, ngày 2
lần. Transamin 250 mg tiêm tĩnh mạch 1- 3 ml/con
(tuỳ trọng lượng, nếu chó đi ngoài ra máu). Alagin C
1-5 ml/con (tuỳ trọng lượng, nếu chó sốt). Tiến hành
điều trị cho 50 chó có 42 chó khỏi bệnh, chiếm tỷ lệ
84%, thời gian điều trị trung bình là 6,02 ± 0,11.
Phác đồ 2. Bổ sung thêm Probiotics 5mg cho
uống hoặc trộn thức ăn 2,5 – 10g/con/ngày. Tiến
hành điều trị cho 50 chó có 46 chó khỏi bệnh, chiếm
tỷ lệ 92%, thời gian điều trị trung bình là 5,06 ± 0,12.
20
Qua so sánh hai phác đồ chúng tôi thấy,
phác đồ 2 có hiệu quả cao hơn rõ ràng so với
phác đồ 1. Thời gian điều trị ngắn hơn, chó
mau khoẻ và hồi phục nhanh hơn. Điều này
cho thấy Parvo là một bệnh do virus gây ra
nên chưa có thuốc đặc trị chỉ hướng đến điều
trị theo triệu chứng nhằm nâng cao sức đề
kháng cho con bệnh. Trong quá trình điều trị
chúng tôi thấy việc bù nước và chất điện giải,
cung cấp dưỡng chất, cân bằng dịch thể chống
nhiễm khuẩn thứ phát, đặc biệt việc bổ sung
chế phẩm Probiotics cho chó là hết sức cần
thiết để tăng cường hệ vi sinh, giúp cơ thể
chống lại với mầm bệnh thoát qua giai đoạn
suy kiệt (Lobetti, 2003 [8]). Việc phát hiện
sớm ca bệnh có ý nghĩa quan trọng đến khả
năng và thời gian phục hồi của bệnh.
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVIII SỐ 8 - 2021
4. KẾT LUẬN
Dùng phương pháp test kit CPV Ag cho 1414
chó đến khám tại Bệnh xá Thú y, có 511 chó dương
tính với Prvovirus, chiếm tỷ lệ 36,14%. Tỷ lệ mắc
ở các địa phương giao động từ 32,94% đến 42,68%.
Tỷ lệ chết ở chó mắc bệnh Parvo là 10,37%.
aspects, with emphasis on type 2c. Veterinary Microbiology 155, 1–12.
4. Nguyễn Thị Hiếu Dân, Trần Ngọc Bích, Nguyễn
Thị Yến Mai, Trần Văn Thanh (2019) Khảo sát
bệnh Viêm ruột do Parvovirus gây ra trên chó tại
thành phố Bến Tre, Tạp khí Khoa học và Công nghệ
Đại học Thái Nguyên, số 197 (04), tr 95 – 100.
Chó nhập nội tỷ lệ mắc bệnh (14,07%) cao hơn
chó nội (6,35%). Tỷ lệ mắc bệnh Parvo ở chó giảm
dần theo tuổi, tỷ lệ mắc có sự khác biệt rõ rệt ở
các nhóm tuổi (P<0,05), trong đó chó dưới 6 tháng
tuổi dễ cảm nhiễm bệnh và dễ chết nhất, tỷ lệ mắc
bệnh lên đến 84,36%, tỷ lệ chết 13,25% ở nhóm
chó dưới 3 tháng tuổi. Nhóm dưới 6 tháng tuổi tỷ
lệ mắc bệnh là 60,37%, tỷ lệ chết 9,34%.
5. Nguyễn Văn Dũng, Phạm Xuân Thảo, Vũ Kim
Chiến và Ken Maeda (2018), “Dịch tễ học phân
tử Parvovirus trên chó nuôi tại thành phố Hồ Chí
Minh”, Chi cục thú y thành phố Hồ Chí Minh.
Chó có thể mắc bệnh Parvo ở tất cả các mùa
trong năm, tuy nhiên tỷ lệ mắc và chết cao nhất
ở mùa Xuân (49,75% và 16,67%), tiếp đến là
mùa Hè (36,50%), mùa Đông (31,41%), mùa Thu
(24,78%) tỷ lệ mắc thấp hơn.
7. Ling, M., Norris, J.M., Kelman, M. and Ward, M.P.
(2012). Risk factors for death from canine parvovial – related disease in Australia, Vet Microbiol.
Người dân nên chú trọng định kỳ tiêm phòng
vắc xin phòng các bệnh truyền lây cho chó, qua
nghiên cứu, nhóm chó chưa được tiêm phòng vắc
xin Parvo có tỷ lệ mắc bệnh và chết (68,75% 11,04%) cao hơn rất nhiều so với chó được tiêm
phòng vắc xin (6,60% - 4,08%).
Dùng phác đồ 2 điều trị cho chó mắc bệnh Parvo
sẽ rút ngắn được thời gian điều trị và hiệu quả khỏi
bệnh cao (92%), Trong quá trình điều trị cho chó
cần trú trọng bù nước và chất điện giải, cung cấp
dưỡng chất, cân bằng dịch thể chống nhiễm khuẩn
thứ phát, bổ sung chế phẩm Probiotics cho chó để
tăng cường hệ vi sinh, giúp cơ thể chống lại với
mầm bệnh thoát qua giai đoạn suy kiệt.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trần Ngọc Bích, Trần Thị Thảo, Nguyễn Thị Yến
Mai và Nguyễn Quốc Việt, 2013. Khảo sát tỷ lệ
bệnh do Parvovirus trên chó từ 1 đến 6 tháng tuổi ở
thành phố Cần Thơ. Tạp chí Khoa học Trường Đại
học Cần Thơ, 28: 15-20
2. Candlish Mc., 1998. Canine parvovirus infection,
In:NeilT. German, Canine Medicine and Therapeutics, Fourth edition, pp.127-130.
3. Decaro N., Buonavoglia C., 2012. Canine parvovirus – A review of epidemiological and diagnostic
6. Sử Thanh Long, Lê Thị Hương và Trương Thị
Dung (2014). Bệnh viêm ruột truyền nhiễm do Parvovirus gây ra ở chó và thử nghiệm điều trị. Tạp chí
Khoa học kĩ thuật Thú y. 21. (4). tr. 21 – 28.
8. Lobetti, 2003. “Canine Parvovirus and Distemper”.
In: 28th world congress of world small animal veterinary association, October 24-27 2003, Bangkok,
Thailand.
9. Martella N. Decaro G. Elia and Buonavoglia C.
(2005) “Surveillance activity for canine parvovirus in Italy”, Journal Veterinary Medicine B, 52,
pp. 312- 315.
10. Miranda C., Parrish C. R., Thompson G, 2016,
“Epidemiological evolution of canine parvovirus
in the Portuguese domestic dog population”. Vet.
Microbiol., 183, pp. 37-42.
11. Nguyễn Thị Quyên, Bùi Thị Hải Yến, Hoàng Thị
Phương Thúy, Bùi Thị Sao Mai (2018), “Một số
đặc điểm bệnh viêm ruột truyền nhiễm do Parvovirus gây ra trên chó và thử nghiệm điều trị”, Tạp chí
khoa học kỹ thuật thú y, 8: 35-40
12. Trần Văn Thanh, Trần Ngọc Bích, Thái Quốc Hiếu,
Nguyễn Thị Yến Mai, “Tình hình bệnh viêm ruột
do Parvovirus trên chó tại chi cục chăn nuôi và thú
y Tiền Giang”, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn, số 24/2018, tr. 102-107, 2018.
13. Nguyễn Xuân Trạch và Đỗ Đức Lực (2016), Giáo
trình phân tích số liệu thí nghiệm và công bố kết
quả nghiên cứu chăn nuôi, Nhà xuất bản Nông
nghiệp Hà Nội.
Ngày nhận 15- 7-2021
Ngày phản biện 30-7-2021
Ngày đăng 1-12-2021
21
JOURNAL OF VETERINARY SCIENCE AND TECHNOLOGY
ISSN 1859 - 4751
Taäp XXVIII
HOÄI THUÙ Y VIEÄT NAM
Soá 8 - 2021
VIETNAM VETERINARY ASSOCIATION
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVIII SỐ 8 - 2021
MUÏC LUÏC
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
• TRẦN ĐỨC HOÀN, NGUYỄN THỊ HƯƠNG GIANG, ĐOÀN THỊ THẢO, BÙI THỊ HƯƠNG,
NGUYỄN THỊ THU HUYỀN, NGUYỄN ĐÌNH NGUYÊN
Một số đặc điểm dịch tễ và biến đổi bệnh lý ở chó mắc bệnh Parvovirus
• PHAN THỊ HỒNG PHÚC, PHẠM THỊ TRANG, TRẦN THẾ HANH, PHAN THANH XUÂN
Đặc điểm dịch tễ ở chó mắc bệnh Parvo và hiệu quả của phác đồ điều trị tại Bệnh xá Thú y,
trường đại học Nông Lâm
• HỒ THY KỲ, NGUYỄN VŨ THỤY HỒNG LOAN
Khảo sát sỏi đường tiết niệu trên mèo tại phòng khám thú y thành phố Hồ Chí Minh
• NGUYỄN HUỲNH KIM HUỆ, NGUYỄN VŨ THỤY HỒNG LOAN
Khảo sát bệnh rối loạn chuyển hóa xương và sỏi urate trên rồng nam mỹ (Iguana) tại Việt Nam
• NGUYỄN THÀNH LUÂN
Nghiên cứu phân tích và so sánh genome của một số chủng virus Corona trong thú y
• LƯU ĐẶC GIA, TRẦN THỊ THẢO, TRẦN NGỌC MỸ HIỀN, TRƯƠNG THỊ HƯƠNG
GIANG, LÊ PHẠM THU HÀ
Bệnh hô hấp trên mèo do Feline calicivirus tại quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ
• ĐẶNG THỊ MAI LAN, ĐỖ ĐỨC THÀNH, PHẠM THÙY LINH
Tình hình nhiễm virus Ca-rê trên chó mang đến khám và điều trị tại phòng khám thú y NPet, 21
Nguyễn Cơ Thạch, Hà Nội
• DƯƠNG NHƯ NGỌC, NGUYỄN THỊ LAN ANH, ĐỖ THỊ THU THÚY, ĐOÀN HỮU HOÀN,
PHẠM THỊ LAN HƯƠNG, VƯƠNG HỮU HUẤN, NGUYỄN THỊ BÍCH THỦY, ĐÀO THỊ
HÀ THANH
Tình hình nhiễm ký sinh trùng đường máu Anaplasma spp. và Babesia spp. trên chó, mèo tại Hà Nội
• NGUYỄN THỊ VÂN ANH, NGUYỄN NGỌC ĐỈNH
Tỷ lệ nhiễm giun đũa Toxocara canis ở chó nuôi và ở người nuôi chó tại thành phố Buôn Ma Thuột
tỉnh Đắk Lắk
• LA THỊ ÁNH MINH, NGUYỄN HỮU HƯNG
Tình hình nhiễm ngoại ký sinh trên chó và thử nghiệm hiệu quả thuốc điều trị tại tỉnh An Giang
• PHẠM MINH THƯ, NGUYỄN LƯƠNG TRƯỜNG GIANG, NGUYỄN ĐỨC HIỀN
Nghiên cứu hợp chất cetylpyridinium chloride và chlorhexidine gluconate trong việc ngăn ngừa
hình thành mảng bám vôi răng trên chó
• BÙI XUÂN PHƯƠNG, TRẦN HỮU CÔI, PHẠM THANH HẢI, ĐINH THẾ DŨNG, NGÔ
QUANG ĐỨC, ĐÀM QUANG TOÀN, NGUYỄN VĂN THANH, TRẦN VĂN NÊN
Một số chỉ tiêu sinh sản và bệnh sản khoa thường gặp ở giống chó bản địa dạng sói (chó Lài Sông Mã)
NÂNG CAO - THAM KHẢO
• NGUYỄN TẤN TÀI, QUÁCH TUYẾT ANH
Giá trị hồng cầu lưới trong bệnh lý thiếu máu
• VŨ KIM CHIẾN
Sỏi urate trên thú nhỏ
5
15
22
27
32
38
44
50
55
61
69
77
86
91
TRAO ĐỔI KHKT - HOẠT ĐỘNG NGÀNH
• HOÀNG THỊ XUÂN MAI
Nhiễm virus bệnh lở mồm long móng ở chó nhà tại Iran
99
3
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVIII SỐ 8 - 2021
ÑAËC ÑIEÅM DÒCH TEÃ ÔÛ CHOÙ MAÉC BEÄNH PARVO VAØ HIEÄU QUAÛ CUÛA
PHAÙC ÑOÀ ÑIEÀU TRÒ TAÏI BEÄNH XAÙ THUÙ Y, TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC NOÂNG LAÂM
Phan Thị Hồng Phúc, Phạm Thị Trang, Trần Thế Hanh, Phan Thanh Xuân
Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
TÓM TẮT
Kit test CPV Ag đã được sử dụng để khám nghiệm 1414 con chó đã mang đến khám tại Bệnh xá
Thú y, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 511 con chó dương
tính với Prvovirus, chiếm tỷ lệ 36,14%. Tỷ lệ chó mắc bệnh parvo ở các địa phương giao động từ
32,94% đến 42,68%. Tỷ lệ chết ở chó mắc bệnh parvo là 10,37%. Tỷ lệ mắc bệnh của chó nhập nội
(14,07%) cao hơn chó nội (6,35%). Tỷ lệ mắc bệnh parvo ở chó giảm dần theo tuổi, tỷ lệ mắc có
sự khác biệt rõ rệt ở các nhóm tuổi (P<0,05), trong đó chó dưới 6 tháng tuổi dễ nhiễm bệnh và dễ
chết nhất, tỷ lệ mắc bệnh lên đến 84,36%, tỷ lệ chết 13,25% ở nhóm chó dưới 3 tháng tuổi. Nhóm
chó dưới 6 tháng tuổi có tỷ lệ mắc bệnh là 60,37%, tỷ lệ chết 9,34%. Chó có thể mắc bệnh Parvo ở
tất cả các mùa trong năm, tuy nhiên tỷ lệ mắc cao nhất ở mùa Xuân (49,75%), tiếp đến là mùa Hè
(36,50%), mùa Đông (31,41%), mùa Thu (24,78%). Nhóm chó chưa được tiêm phòng vắc xin parvo
có tỷ lệ mắc bệnh và chết (68,75% - 11,04%) cao hơn rất nhiều so với chó được tiêm phòng vắc xin
(6,60% - 4,08%). Dùng phác đồ 2 điều trị cho chó mắc bệnh parvo đã rút ngắn được thời gian điều
trị và nâng cao hiệu quả điều trị khỏi bệnh (92%).
Từ khoá: Parvovirus, chó, Thái Nguyên, dịch tễ, điều trị.
Epidemiological characteristics in dogs infected with Parvovirosis and
effectiveness of the treatment regimen at veterinary clinic, Thai Nguyen
university of agriculture and forestry
Phan Thi Hong Phuc, Pham Thi Trang, Tran The Hanh, Phan Thanh Xuan
SUMMARY
The canine parvovirus (CPV) antigen test kit was used to test 1414 dogs brough to examination at the Veterinary Clinic, Thai Nguyen University of Agriculture and Forestry. The studied
results showed that 511 dogs were positive with parvovirus, accounting for 36.14%. The prevalence of CPV in localities varied from 32.94% to 42.68%. The mortality rate in the infected dogs
was 10.37%. The CPV prevalence in the exotic dogs was higher than that in the indigenous
dogs (14.07% and 6.35%, respectively). The CPV prevalence in the dogs decreased gradually
by ages, the CPV prevalence was significantly different among the dog age groups (P<0.05), in
which the dogs under 6 months old were most susceptible to the disease and most likely to die,
the morbidity rate of this group was up to 84.36%, the mortality rate was 13.25% in the group
of dogs under 3 months old. In the dog group under 6 months old, the CPV prevalence was
60.37%, the mortality rate was 9.34%. The dogs could infect with parvovirosis in all seasons of
the year, but the highest prevalence was found in the Spring (49.75%), followed by the Summer
(36.50%), in Winter (31.41%), in Autumn (24.78%). The unvaccinated dog group suffered from
PCV with higher prevalence and mortality rate (68.75% and 11.04%, respectively) than those in
the vaccinated dogs (6.60% and 4.08%, respectively). Using regimen 2 to treat the PCV dogs
was shorten the treatment time and increased the treatment efficacy (92%).
Keywords: Parvovirus, dogs, Thai Nguyen, epidemiology, treatment.
15
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVIII SỐ 8 - 2021
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
2.4. Phương pháp nghiên cứu:
Trong những năm gần đây phong trào nuôi chó
cảnh ở thành phố Thái Nguyên đang phát triển rất
mạnh, tuy nhiên việc hiểu biết về cách chăm sóc,
nuôi dưỡng và phòng và trị bệnh cho chó còn hạn
chế, dẫn đến chó thường hay mắc bệnh, đặc biệt là
các bệnh truyền nhiễm, trong đó phải kể đến bệnh
do Parvovirus gây ra. Bệnh Parvovirus trên chó là
một bệnh truyền nhiễm cấp tính nguy hiểm do 3 biến
chủng Canine Parvovirus type 2 (CPV-2) gây ra ở
chó nhà và chó hoang (Miranda và cs, 2016) [10]
. Bệnh thường gặp ở chó 1 – 12 tháng tuổi, với hai
thể là viêm đường ruột và viêm cơ tim. Bệnh có thể
lây qua đường tiêu hoá, qua tiếp xúc với chất thải
của chó mắc bệnh. Chó mắc bệnh thường có biểu
hiện lâm sàng điển hình như: nôn mửa, mệt mỏi, bỏ
ăn, tiêu chảy, phân lẫn máu mùi tanh, tỷ lệ chết rất
cao (Decaro and Buonavoglia, 2012 [3]). Quá trình
khám bệnh cho chó tại bệnh xá Thú y, trường Đại
học Nông Lâm, chúng tôi thấy có nhiều chó có biểu
hiện lâm sàng của bệnh. Để có cơ sở cho việc phòng
và hỗ trợ điều trị bệnh chúng tôi đã tiến hành nghiên
cứu một đặc điểm dịch tễ ở chó mắc bệnh Parvo và
hiệu quả của phác đồ điều trị, từ đó đưa các khuyến
cáo trong phòng và trị bệnh góp phần giảm thiểu
thiệt hại cho người nuôi chó.
- Phương pháp theo dõi và thu thập thông tin:
theo dõi và ghi chép đầy đủ các thông tin cần nghiên
cứu vào sổ khám bệnh bao gồm mã hiệu, giống chó,
nguồn gốc, tính biệt, độ tuổi, các biểu hiện triệu
chứng lâm sàng, thời gian thăm khám và địa điểm
nuôi của các chó đến khám bệnh tại bệnh xá.
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
Cefotaxim sodium: tiêm tĩnh mạch: 25 – 50
mg/kg TT, ngày 2 lần
- Phương pháp xác định bệnh bằng bộ test kit
CPV Ag: lấy tăm bông đưa sâu vào hậu môn của
chó và vê tròn, sau đó cho bông tăm vào ống dung
dịch đệm, vê bông tăm làm cho mầm bệnh hòa vào
dung dịch, làm liên tục 3 lần, chờ khoảng 10 giây,
sau đó lấy ống hút, hút dung dịch nhỏ vào vùng
thử của que test, đọc kết quả sau 10 – 15 phút, nếu
một vạch là âm tính, nếu 2 vạch là dương tính.
- Hiệu quả phác đồ hỗ trợ điều trị bệnh: Chó
dương tính khi thử test CPV Ag được lập bệnh án
theo dõi, ghi chép các biểu hiện lâm sàng và mức
độ tiến triển của bệnh. Chọn ra 100 chó chia làm
2 nhóm (mỗi nhóm 50 chó) điều trị theo 2 phác
đồ như sau:
Phác đồ 1. Dịch truyền: Ringer lactat, đường
glucose 5% 30-50ml/kg thể trọng.
Catosal 10%: tiêm tĩnh mạch 0,5 – 5ml/con
(tuỳ trọng lượng)
2.1. Địa điểm và thời gian nghiên cứu:
Transamin 250 mg: 1-3 ml/con tiêm tĩnh mạch
(tuỳ trọng lượng, nếu chó đi ngoài ra máu)
Địa điểm nghiên cứu: Bệnh xá Thú y, khoa
Chăn nuôi Thú y, trường đại học Nông Lâm Thái
Nguyên, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
Alagin C: 1-5 ml/con ( tuỳ trọng lượng, nếu
chó sốt).
Thời gian nghiên cứu: tháng 6/2020 - 6/2021.
2.2. Đối tượng nghiên cứu:
Bệnh Parvo trên chó đến khám và điều trị tại
Bệnh xá Thú y.
2.3. Nội dung nghiên cứu:
- Nghiên cứu tình hình nhiễm bệnh Parvo trên
chó đến khám và chữa bệnh tại bệnh xá Thú y.
- Hiệu quả điều trị bệnh Parvo trên chó tại
bệnh xá Thú y
16
Phác đồ 2. Như phác đồ 1, bổ sung thêm Probiotics 5mg: cho uống hoặc trộn thức ăn: 2,5 – 10g/
con/ngày
Để đánh giá quá trình phục hồi thể trạng, trạng
thái sinh lý của chó trở lại bình thường, chúng tôi
dựa vào một số chỉ tiêu: giảm ói, giảm tiêu chảy,
tính chất phân thay đổi, ăn uống tỉnh táo, vui vẻ...
hiệu quả điều trị thông qua những chó còn sống và
mức độ phục hồi bệnh.
2.5. Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu thu thập được được xử lý theo phương
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVIII SỐ 8 - 2021
pháp thống kê sinh vật học, theo tài liệu của
Nguyễn Xuân Trạch, Đỗ Đức Lực (2016)[13] và
phần mềm Microsoft Excel 2013.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Tỷ lệ chó mắc bệnh và chết do Parvo
Bảng 1. Tỷ lệ chó mắc bệnh và chết do Parvo
STT
Địa điểm
(Phường)
Số chó đến Số chó mắc
khám (con) Parvo (con)
1
Hoàng Văn Thụ
376
2
Đồng Quang
343
3
Quang Trung
4
Túc Duyên
5
Quang Vinh
Tính chung
Tỷ lệ
(%)
Số chó mắc
bệnh chết (con)
Tỷ lệ chết
(%)
127
33,78
9
7,09
113
32,94
10
8,85
275
96
34,91
9
9,38
252
103
40,87
13
12,62
168
72
42,86
12
16,67
1414
511
36,14
53
10,37
Kết quả bảng 1 cho thấy, dùng phương pháp test
kit CPV Ag cho 1414 chó đến khám tại Bệnh xá Thú
y, có 511 chó dương tính với Prvovirus, chiếm tỷ lệ
36,14%. Tỷ lệ mắc ở các địa phương giao động từ
32,94% đến 42,68%. Kết quả nghiên cứu của chúng
tôi tương đồng với kết qủa nghiên cứu của Nguyễn
Thị Hiếu Dân và cs, 2019 [4] chó nuôi tại Bến Tre tỷ
lệ nhiễm Parvo là 33,33%, tại Tiền Giang là 30,79%
(Trần Văn Thanh và cs 2018 [12]) thấp hơn kết quả
nghiên cứu của Trần Ngọc Bích và cs 2013 [1] tỷ
lệ chó mắc Parvo tại Cần Thơ là 45,10%, tại thành
phố Hồ Chí Minh là 43,30% (Nguyễn Văn Dũng và
cs. (2018)[5]). Kết quả nghiên cứu của chúng tôi và
các tác giả đều cho thấy sự biến động về tỷ lệ mắc
bệnh Parvo ở chó giao động trong các địa điểm và
thời gian nghiên cứu khác nhau.
Trong tổng số 511 chó mắc bệnh đến khám và
chữa bệnh tại bệnh xá thú y đã có 53 chó không qua
khỏi, tỷ lệ chết là 10,37%. Tỷ lệ chó chết giao động
trong khoảng 7,09 – 16,67%, tỷ lệ nhiễm khác biệt
ở các phường, chủ yếu nằm trong nhóm chó từ dưới
6 tháng tuổi. Đặc biệt tại phường Quang Vinh và
Túc Duyên, quá trình thăm khám và chẩn đoán bệnh
chúng tôi thấy người nuôi chó còn thiếu kiến thức về
chăm sóc nuôi dưỡng và phòng bệnh cho chó, nhiều
chủ nuôi chó mới tiêm phòng bệnh dại, còn các bệnh
khác chưa được quan tâm, dẫn đến tỷ lệ chó mắc
bệnh và chết do Parvo là khá cao, đa số các chó chết
là chó chưa được tiêm phòng Parvo. Khi thấy chó
ốm chủ chó thường tự ra hiệu mua thuốc về chữa, khi
chữa bệnh không giảm mới mang đi khám, lúc đó
một số chó đã ở tình trạng bệnh tương đối nặng dẫn
đến khó khăn trong quá trình hỗ trợ điều trị.
3.3. Tỷ lệ chó mắc bệnh Parvo theo giống
Bảng 2. Tỷ lệ chó mắc bệnh Parvo theo giống
Giống chó
Số chó theo
dõi
(con)
Số chó mắc bệnh
Parvo (con)
Tỷ lệ
(%)
Số chó mắc
bệnh chết
(con)
Tỷ lệ chết (%)
Nội
213
63
29,58
4
6,35
Nhập nội
462
199
43,07
28
14,07
Lai
739
249
33,69
21
8,43
Tính chung
1414
511
36,14
53
10,37
Kết quả bảng 2 cho thấy, giống chó nhập nội
mắc bệnh cao nhất, chiếm 43,07%, tiếp đến chó
lai (33,69%) và thấp nhất là chó nội (29,58%).
Quá trình thăm khám chúng tôi thấy chó mang đến
khám chủ yếu là chó nhập nội và chó lai bởi nhu
cầu nuôi chủ yếu của người dân là giải trí, với nhiều
17
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVIII SỐ 8 - 2021
đặc điểm sở thích khác nhau về kiểu lông, màu sắc
lông, về trọng lượng chó… nên nhóm chó này được
quan tâm và được mang tới khám nhiều hơn. Tuy
nhiên tỷ lệ chó ngoại bị bệnh parvo và chết cao hơn
chó nội. Do chó nội thích nghi với điều kiện khí
hậu trong nước tốt hơn so với chó ngoại nên sức đề
kháng cao hơn dẫn đến tỷ lệ mắc bệnh và chết thấp
hơn, hơn nữa quá trình hỏi bệnh chúng tôi thấy một
số người dân mới nuôi chó cảnh lần đầu, chưa hiểu
biết về cách chăm sóc nuôi dưỡng và phòng bệnh
cho chó, khi nói đến đi tiêm vắc xin thường e ngại,
sợ đau và ảnh hưởng đến chó dẫn đến tỷ lệ mắc
bệnh và chết ở nhóm chó nhập nội tăng cao.
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với
kết quả nghiên cứu của Candlish (1998)[2], tất cả các
giống chó đều có nguy cơ nhiễm bệnh do Parvovirus
gây ra nhưng mức độ bệnh trầm trọng khiến chó mau
suy kiệt nhất dễ xảy ra ở các giống chó ngoại.
3.4. Tỷ lệ chó mắc bệnh Parvo theo lứa tuổi
Bảng 3. Tỷ lệ chó mắc bệnh Parvo theo lứa tuổi
Tuổi (tháng)
Số chó theo dõi
(con)
Số chó mắc bệnh
Parvo (con)
Tỷ lệ
(%)
Số chó mắc
bệnh chết
(con)
Tỷ lệ
(%)
≤3
179
151
84,36
20
13,25
> 3-6
492
297
60,37
28
9,43
> 6 - 12
536
54
10,07
4
7,41
> 12
207
9
4,35
1
11,11
Tính chung
1414
511
36,14
53
10,37
Kết quả bảng 3 cho thấy tỷ lệ mắc bệnh giảm
dần theo tuổi, tỷ lệ mắc có sự khác biệt rõ rệt ở
các nhóm tuổi (P<0,05), trong đó chó dưới 3 tháng
tuổi dễ cảm nhiễm bệnh và dễ chết nhất, tỷ lệ mắc
bệnh lên đến 84,36%, tỷ lệ chết 13,25%, từ trên 3
đến 6 tháng tuổi tỷ lệ mắc bệnh là 60,37%, từ trên
6 đến 12 tháng tỷ lệ mắc 10,07% và trên 12 tháng
tuổi tỷ lệ mắc chỉ còn 4,35%.
Nguyên nhân chó ở giai đoạn dưới 3 tháng tuổi
tỷ lệ mắc bệnh Parvo cao nhất (84,36%), do trong
giai đoạn dưới 3 tháng tuổi, đây là giai đoạn chó vừa
được cai sữa mẹ, trong thời gian bú sữa mẹ, chó con
có thể thu được miễn dịch thụ động tự nhiên của chó
mẹ thông qua sữa đầu, chó con thu được miễn dịch
thụ động tự nhiên qua sữa đầu nhưng lượng kháng
thể này giảm dần hoặc không đủ khả năng phòng
bệnh, sau 2 tháng chó thường được cai sữa, đây là
thời kỳ chó dễ bị stress do cai sữa mẹ, thay đổi thức
ăn, môi trường sống thay đổi… hơn nữa giai đoạn
này hệ thống miễn dịch của chó chưa hoàn thiện,
sinh lý của con vật thay đổi..., do vậy khi virus Parvo
xâm nhập vào cơ thể, hệ thống miễn dịch của cơ thể
không có khả năng sản sinh ra kháng thể chống lại
tác nhân gây bệnh nên dễ cảm nhiễm mầm bệnh. Ở
giai đoạn này một số người nuôi chó cũng ngại tâm
18
lý chó còn nhỏ chưa cho tiêm phòng Parvo ngay dẫn
đến tỷ lệ chết cũng tăng cao 13,25%.
Giai đoạn 3 đến 6 tháng tuổi, giai đoạn này
chó sinh trưởng phát triển nhanh nên năng lượng
hầu hết phục vụ cho quá trình sinh trưởng gây ảnh
hưởng đến sức đề kháng của con vật, khả năng đáp
ứng miễn dịch của chó trong giai đoạn này chưa
cao. Đối với những chó đã được tiêm phòng thì có
khả năng bảo hộ với bệnh. Tuy nhiên những con
không được tiêm phòng hoặc tiêm phòng không
đúng thời điểm sẽ dễ cảm nhiễm bệnh. Vì vậy, tỷ
lệ mắc bệnh của chó ở giai đoạn này cao (60,37%).
Chó trên 12 tháng tuổi tỷ lệ mắc bệnh thấp
(4,35%), ở giai đoạn này chó đã trưởng thành, đã
dần thích nghi với môi trường, điều kiện chăm sóc,
nuôi dưỡng nên sức đề kháng tốt hơn với bệnh.
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương đương
kết qủa nghiên cứu của Nguyễn Thị Hiếu Dân và cs,
2019, tác giả cho biết: chó dưới 4 tháng tuổi tỷ lệ
mắc bệnh là 82,63%, sau đó giảm dần theo tuổi. Cao
hơn kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Quyên và
cs. (2018)[11], tỷ lệ nhiễm bệnh Parvovirus cao nhất
ở giai đoạn từ 2 - 6 tháng tuổi (51,35%). Về mặt lâm
sàng, bệnh viêm ruột do Parvovirus gây ra ít khi xảy
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVIII SỐ 8 - 2021
ra ở chó trưởng thành, khỏe mạnh trên 1 năm tuổi và
chó con dưới 1 tháng tuổi. Vì cả hai giai đoạn này,
sự nhân lên của tế bào biểu mô hốc thấp đồng thời
kháng thể thụ động mẹ truyền còn cao. Đặc biệt đối
với chó ở giai đoạn >2 tháng tuổi là mẫn cảm nhất
vì lúc này kháng thể do mẹ truyền sang qua sữa đầu
đã bắt đầu giảm dần hoặc do chó mẹ không có miễn
dịch trong thời gian nuôi con, những kháng thể này
sẽ được loại thải hết trong khoảng 6-10 tuần tuổi, lúc
này chó dễ cảm thụ bệnh nhất.
Như vậy mặc dù có sự khác nhau về tỷ lệ mắc
bệnh ở các địa điểm khác nhau trong cùng nhóm
tuổi, nhưng các kết quả nghiên cứu đều cho thấy
chó dưới 6 tháng tuổi tỷ lệ mắc bệnh cao nhất, sau
đó giảm dần theo tuổi, sự khác biệt này có ý nghĩa
thống kê (P<0,05).
3.5. Tỷ lệ chó mắc bệnh Parvo theo mùa vụ
Bảng 4. Tỷ lệ chó mắc bệnh Parvo theo mùa vụ
Mùa vụ
Số chó theo dõi
(con)
Số chó mắc bệnh
Parvo (con)
Tỷ lệ
(%)
Số chó mắc
bệnh chết
(con)
Tỷ lệ
(%)
Xuân
398
198
49,75
33
16,67
Hè
326
119
36,50
8
6,72
Thu
343
85
24,78
3
3,53
Đông
347
109
31,41
9
8,26
Tính chung
1414
511
36,14
53
10,37
Kết qủa bảng 5 cho thấy, chó có thể mắc bệnh
Parvo ở tất cả các mùa trong năm, tuy nhiên tỷ
lệ mắc và chết cao nhất ở mùa Xuân (49,75% và
16,67%), tiếp đến là mùa Hè (36,50%), mùa Đông
(31,41%), mùa Thu (24,78%) tỷ lệ mắc thấp hơn.
Sự sai khác này có ý nghĩa thống kê (P<0,05). Sở
dĩ ở mùa Xuân chó mắc bệnh Parvo là cao nhất vì
đây là thời điểm độ ẩm tương đối cao, trời nồm, thời
tiết ẩm tạo điều kiện thuận lợi cho virus tăng về số
lượng, độc lực, dễ dàng phát tán ra môi trường làm
cho chó dễ mắc bệnh, đặc biệt là chó con. Mùa Thu
thời tiết khô mát, biên độ thời tiết thay đổi không
nhiều phù hợp với đặc điểm sinh lý phát triển của
chó. Chính vì điều này người nuôi chó phải chú ý
đưa chó đi tiêm phòng nhóm bệnh truyền nhiễm
theo định kỳ và đúng lịch tiêm chủng cho chó, tránh
trường hợp tiêm muộn hoặc bỏ qua giai đoạn tiêm
dẫn đến chó mắc bệnh cao và dễ tử vong.
3.6. Tỷ lệ chó mắc bệnh Parvo ở chó được tiêm
phòng và chó chưa tiêm phòng
Bảng 6. Tỷ lệ chó mắc bệnh Parvo ở chó được tiêm phòng và chó chưa tiêm phòng
Số mũi tiêm
vắc xin Parvo
Số chó
khảo sát (con)
Số chó
mắc bệnh
Parvo (con)
Tỷ lệ
(%)
Số chó mắc
bệnh chết
(con)
Tỷ lệ chết
(%)
Chưa tiêm phòng
672
462
68,75
51
11,04
Đã tiêm phòng
742
49
6,60
2
4,08
Tính chung
1414
511
36,14
53
10,37
Kết quả bảng 6 cho thấy sự khác biệt về tỷ lệ mắc
bệnh giữa chó đã được tiêm phòng và chó chưa được
tiêm phòng (P < 0,05), chó chưa được tiêm phòng
vắc xin có tỷ lệ mắc bệnh cao (68,75%), chó được
tiêm phòng vắc xin tỷ lệ mắc bệnh là 6,60%. Tỷ lệ
chó chết chưa tiêm phòng là 11,04% và chó tiêm
phòng là 4,08%. Sự sai khác này có ý nghĩa thống
kê (P<0,05). Kết quả trên cho thấy việc phòng bệnh
bằng vắc xin có hiệu quả tích cực trong việc làm
giảm khả năng nhiễm virus và chết ở chó. Kết quả
19
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVIII SỐ 8 - 2021
nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với nghiên cứu
của Sử Thanh Long và cs 2014 [6] Kết quả nghiên
cứu của Ling và cs (2012) [7] cho biết, chó vẫn mắc
bệnh và chết do Parvovirus là 3,3% mặc dù đã được
tiêm phòng đủ trong vòng 12 tháng.
nuôi tiêm phòng không đầy đủ cho chó, do tiêm
phòng không đúng quy trình, do bảo quản vắc xin
không đúng cách làm mất hiệu lực của vắc xin, do
sức đề kháng của từng cá thể chó khác nhau, do chế
độ chăm sóc nuôi dưỡng của chủ vật nuôi. Một số
người chăn nuôi không mang chó đến tiêm phòng ở
các cơ sở thú y mà tự mua vắc xin ở chợ về tiêm cho
chó, quá trình mang về bảo quản vắc xin không đúng
sẽ làm cho vắc xin giảm hoặc không có hiệu lực.
Qua khảo sát chúng tôi thấy nhiều chó đến
khám tại bệnh xá đều chưa được tiêm phòng vắc
xin hoặc tiêm phòng vắc xin không đầy đủ. Điều
này cho thấy ý thức phòng bệnh của người nuôi chó
chưa cao. Bên cạnh đó có nhiều chủ nuôi coi chó là
thú cưng trong nhà, được nuôi và chăm sóc rất cẩn
thận. Họ nghĩ rằng: chó được nuôi trong môi trường
an toàn không tiếp xúc với mầm bệnh bên ngoài sẽ
không mắc bệnh nên không cần phải tiêm phòng
hoặc tiêm phòng sẽ làm đau và có hại cho chó.
Kết quả khảo sát cho thấy tiêm phòng vắc xin có
hiệu quả, đối với những chó đã được tiêm phòng vắc
xin nguy cơ mắc bệnh thấp hơn. Tuy nhiên việc tiêm
phòng vắc xin không phải là an toàn tuyệt đối.
Vì vậy, tiêm phòng vắc xin cho chó rất quan
trọng, bên cạnh đó cần chú ý đến cách sử dụng,
bảo quản vắc xin và cách chăm sóc nuôi dưỡng để
việc tiêm phòng đạt hiệu quả cao hơn.
Có 6,06% chó được tiêm phòng những vẫn mắc
bệnh và có 4,08 chó được tiêm phòng nhưng vẫn
chết, có thể do những nguyên nhân như hiện nay có
nhiều type trong khi vắc xin thông thường chỉ chỉ
phòng hộ được 1 type (Martella và cs, 2005 [9]),
hoặc tiêm phòng chưa đúng cách, hoặc do người
3.7. Hiệu quả của phác đồ điều trị bệnh Parvo
cho chó
Bảng 7. Hiệu quả của phác đồ điều trị bệnh Parvo cho chó
Địa điểm
Số con điều trị
(con)
Số con khỏi
(con)
Tỷ lệ khỏi
(%)
Thời gian điều trị
(ngày)
Phác đồ 1
50
42
84,00
6,02 ± 0,11
Phác đồ 2
50
46
92,00
5,06 ± 0,12
Chúng tôi đã tiến hành điều trị cho tất cả chó bệnh
theo phác đồ chung của bệnh xá. Để đánh giá hiệu
quả của hai phác đồ, chúng tôi chọn ra mỗi nhóm 50
chó và tiến hành theo dõi, điều trị. Kết quả cho thấy:
Phác đồ 1: dùng Ringer lactat, đường glucose
5% 30-50ml/kg thể trọng. Catosal 10%, tiêm tĩnh
mạch 0,5 – 5ml/con (tuỳ trọng lượng). Cefotaxim
sodium tiêm tĩnh mạch 25 – 50 mg/kg TT, ngày 2
lần. Transamin 250 mg tiêm tĩnh mạch 1- 3 ml/con
(tuỳ trọng lượng, nếu chó đi ngoài ra máu). Alagin C
1-5 ml/con (tuỳ trọng lượng, nếu chó sốt). Tiến hành
điều trị cho 50 chó có 42 chó khỏi bệnh, chiếm tỷ lệ
84%, thời gian điều trị trung bình là 6,02 ± 0,11.
Phác đồ 2. Bổ sung thêm Probiotics 5mg cho
uống hoặc trộn thức ăn 2,5 – 10g/con/ngày. Tiến
hành điều trị cho 50 chó có 46 chó khỏi bệnh, chiếm
tỷ lệ 92%, thời gian điều trị trung bình là 5,06 ± 0,12.
20
Qua so sánh hai phác đồ chúng tôi thấy,
phác đồ 2 có hiệu quả cao hơn rõ ràng so với
phác đồ 1. Thời gian điều trị ngắn hơn, chó
mau khoẻ và hồi phục nhanh hơn. Điều này
cho thấy Parvo là một bệnh do virus gây ra
nên chưa có thuốc đặc trị chỉ hướng đến điều
trị theo triệu chứng nhằm nâng cao sức đề
kháng cho con bệnh. Trong quá trình điều trị
chúng tôi thấy việc bù nước và chất điện giải,
cung cấp dưỡng chất, cân bằng dịch thể chống
nhiễm khuẩn thứ phát, đặc biệt việc bổ sung
chế phẩm Probiotics cho chó là hết sức cần
thiết để tăng cường hệ vi sinh, giúp cơ thể
chống lại với mầm bệnh thoát qua giai đoạn
suy kiệt (Lobetti, 2003 [8]). Việc phát hiện
sớm ca bệnh có ý nghĩa quan trọng đến khả
năng và thời gian phục hồi của bệnh.
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXVIII SỐ 8 - 2021
4. KẾT LUẬN
Dùng phương pháp test kit CPV Ag cho 1414
chó đến khám tại Bệnh xá Thú y, có 511 chó dương
tính với Prvovirus, chiếm tỷ lệ 36,14%. Tỷ lệ mắc
ở các địa phương giao động từ 32,94% đến 42,68%.
Tỷ lệ chết ở chó mắc bệnh Parvo là 10,37%.
aspects, with emphasis on type 2c. Veterinary Microbiology 155, 1–12.
4. Nguyễn Thị Hiếu Dân, Trần Ngọc Bích, Nguyễn
Thị Yến Mai, Trần Văn Thanh (2019) Khảo sát
bệnh Viêm ruột do Parvovirus gây ra trên chó tại
thành phố Bến Tre, Tạp khí Khoa học và Công nghệ
Đại học Thái Nguyên, số 197 (04), tr 95 – 100.
Chó nhập nội tỷ lệ mắc bệnh (14,07%) cao hơn
chó nội (6,35%). Tỷ lệ mắc bệnh Parvo ở chó giảm
dần theo tuổi, tỷ lệ mắc có sự khác biệt rõ rệt ở
các nhóm tuổi (P<0,05), trong đó chó dưới 6 tháng
tuổi dễ cảm nhiễm bệnh và dễ chết nhất, tỷ lệ mắc
bệnh lên đến 84,36%, tỷ lệ chết 13,25% ở nhóm
chó dưới 3 tháng tuổi. Nhóm dưới 6 tháng tuổi tỷ
lệ mắc bệnh là 60,37%, tỷ lệ chết 9,34%.
5. Nguyễn Văn Dũng, Phạm Xuân Thảo, Vũ Kim
Chiến và Ken Maeda (2018), “Dịch tễ học phân
tử Parvovirus trên chó nuôi tại thành phố Hồ Chí
Minh”, Chi cục thú y thành phố Hồ Chí Minh.
Chó có thể mắc bệnh Parvo ở tất cả các mùa
trong năm, tuy nhiên tỷ lệ mắc và chết cao nhất
ở mùa Xuân (49,75% và 16,67%), tiếp đến là
mùa Hè (36,50%), mùa Đông (31,41%), mùa Thu
(24,78%) tỷ lệ mắc thấp hơn.
7. Ling, M., Norris, J.M., Kelman, M. and Ward, M.P.
(2012). Risk factors for death from canine parvovial – related disease in Australia, Vet Microbiol.
Người dân nên chú trọng định kỳ tiêm phòng
vắc xin phòng các bệnh truyền lây cho chó, qua
nghiên cứu, nhóm chó chưa được tiêm phòng vắc
xin Parvo có tỷ lệ mắc bệnh và chết (68,75% 11,04%) cao hơn rất nhiều so với chó được tiêm
phòng vắc xin (6,60% - 4,08%).
Dùng phác đồ 2 điều trị cho chó mắc bệnh Parvo
sẽ rút ngắn được thời gian điều trị và hiệu quả khỏi
bệnh cao (92%), Trong quá trình điều trị cho chó
cần trú trọng bù nước và chất điện giải, cung cấp
dưỡng chất, cân bằng dịch thể chống nhiễm khuẩn
thứ phát, bổ sung chế phẩm Probiotics cho chó để
tăng cường hệ vi sinh, giúp cơ thể chống lại với
mầm bệnh thoát qua giai đoạn suy kiệt.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trần Ngọc Bích, Trần Thị Thảo, Nguyễn Thị Yến
Mai và Nguyễn Quốc Việt, 2013. Khảo sát tỷ lệ
bệnh do Parvovirus trên chó từ 1 đến 6 tháng tuổi ở
thành phố Cần Thơ. Tạp chí Khoa học Trường Đại
học Cần Thơ, 28: 15-20
2. Candlish Mc., 1998. Canine parvovirus infection,
In:NeilT. German, Canine Medicine and Therapeutics, Fourth edition, pp.127-130.
3. Decaro N., Buonavoglia C., 2012. Canine parvovirus – A review of epidemiological and diagnostic
6. Sử Thanh Long, Lê Thị Hương và Trương Thị
Dung (2014). Bệnh viêm ruột truyền nhiễm do Parvovirus gây ra ở chó và thử nghiệm điều trị. Tạp chí
Khoa học kĩ thuật Thú y. 21. (4). tr. 21 – 28.
8. Lobetti, 2003. “Canine Parvovirus and Distemper”.
In: 28th world congress of world small animal veterinary association, October 24-27 2003, Bangkok,
Thailand.
9. Martella N. Decaro G. Elia and Buonavoglia C.
(2005) “Surveillance activity for canine parvovirus in Italy”, Journal Veterinary Medicine B, 52,
pp. 312- 315.
10. Miranda C., Parrish C. R., Thompson G, 2016,
“Epidemiological evolution of canine parvovirus
in the Portuguese domestic dog population”. Vet.
Microbiol., 183, pp. 37-42.
11. Nguyễn Thị Quyên, Bùi Thị Hải Yến, Hoàng Thị
Phương Thúy, Bùi Thị Sao Mai (2018), “Một số
đặc điểm bệnh viêm ruột truyền nhiễm do Parvovirus gây ra trên chó và thử nghiệm điều trị”, Tạp chí
khoa học kỹ thuật thú y, 8: 35-40
12. Trần Văn Thanh, Trần Ngọc Bích, Thái Quốc Hiếu,
Nguyễn Thị Yến Mai, “Tình hình bệnh viêm ruột
do Parvovirus trên chó tại chi cục chăn nuôi và thú
y Tiền Giang”, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn, số 24/2018, tr. 102-107, 2018.
13. Nguyễn Xuân Trạch và Đỗ Đức Lực (2016), Giáo
trình phân tích số liệu thí nghiệm và công bố kết
quả nghiên cứu chăn nuôi, Nhà xuất bản Nông
nghiệp Hà Nội.
Ngày nhận 15- 7-2021
Ngày phản biện 30-7-2021
Ngày đăng 1-12-2021
21
 
Trang website được tạo nên để chia sẻ tài nguyên
học tập cho sinh viên nhóm ngành Sinh học - Các nội
dung cập nhật đã được ghi rõ nguồn gốc.
Website chẩn đoán hình ảnh
http://w3.vet.cornell.edu
Website dược lý thú y
http://www.nottingham.ac.uk/nursing/sonet/rlos/bioproc/vd/2.html
Website sách hay
http://www.ebook.edu.vn/






Các ý kiến mới nhất