Chào mừng quý vị đến với website của Phan Thị Hồng Phúc - Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

Parvo Cao Bằng

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Phan Thị Hồng Phúc (trang riêng)
Ngày gửi: 15h:51' 29-05-2025
Dung lượng: 3.2 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích: 0 người
KHOA HOÏC KYÕ THUAÄT

JOURNAL OF VETERINARY SCIENCE AND TECHNOLOGY

ISSN 1859 - 4751

Taäp XXX

HOÄI THUÙ Y VIEÄT NAM

Soá 4 - 2023

VIETNAM VETERINARY ASSOCIATION

KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXX SỐ 4 - 2023

NGHIEÂN CÖÙU ÑAËC ÑIEÅM DÒCH TEÃ ÔÛ CHOÙ NHIEÃM PARVOVIRUS TAÏI
THAØNH PHOÁ CAO BAÈNG VAØ HIEÄU QUAÛ SÖÛ DUÏNG CAÂY LÖÔÏC VAØNG
(CALLISIA FRAGRANS) TRONG ÑIEÀU TRÒ BEÄNH
Phan Thị Hồng Phúc, Hoàng Thu Hạnh
Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

TÓM TẮT
Dùng phương pháp test kit CPV Ag cho 527 chó đến khám tại các phòng khám ở thành phố Cao
Bằng, kết quả cho thấy: có 182 chó dương tính với Prvovirus, chiếm tỷ lệ 34,54%. Tỷ lệ chết ở chó
nhiễm Prvovirus là 33,52%. Chó nhập nội tỷ lệ mắc bệnh (46,76%) cao hơn chó nội (28,87%). Tỷ lệ
nhiễm Prvovirus ở chó có sự khác biệt rõ rệt ở các nhóm tuổi. Trong đó, nhóm chó 2 - 6 tháng tuổi dễ
cảm nhiễm bệnh và dễ chết nhất, tỷ lệ mắc bệnh lên đến 61,29%, tỷ lệ chết 42,11%. Nhóm chó trên
12 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm thấp nhất (13,38%), tỷ lệ chết 15,79%. Chó nhiễm Parvovirus ở tất cả các
tháng trong năm, tuy nhiên tỷ lệ mắc và chết cao nhất ở mùa Xuân (49,11% và 41,82%), tiếp theo là
mùa Hè (37,14%), mùa Thu 28,68% và thấp nhất là mùa Đông 2,12%. Nhóm chó chưa được tiêm
phòng vắc xin Parvovirus có tỷ lệ nhiễm bệnh và chết cao nhất (75,95% và 46,67%); nhóm chó tiêm
1 mũi vắc xin là 40,94% và 28,32%; nhóm chó tiêm 2 mũi vắc xin có tỷ lệ nhiễm thấp nhất 5,23% và
11,11%. Dùng phác đồ 3 (sử dụng lá cây lược vàng) điều trị cho chó nhiễm Parvovirus sẽ rút ngắn
được thời gian điều trị và hiệu quả khỏi bệnh cao (4,33 ± 0,28 ngày và 73,33%).
Từ khoá: Parvovirus, chó, dịch tễ, điều trị, cậy lược vàng, Cao Bằng,

Study on epidemiological characteristics in dogs infected with parvovirus
and its treatment effectiveness of the golden tendril (callisia fragrans)
at Cao Bang city
Phan Thi Hong Phuc, Hoang Thu Hanh

SUMMARY
527 dogs were tested by using a rapid CPV test kit for dogs examined at the Veterinary Clinics
in Cao Bang city, the results showed that there were 182 positive dogs with Parvovirus, accounting
for 34.54%. The mortality rate of infected dogs was 33,52%. The prevalence of imported dogs
was higher than that of domestic dogs (46.76% versus 28.87%, respectively). The prevalence of
Parvovirus in dogs was significantly different in accordance with age. Therein, dogs aged from 2 to
6 months were the most susceptible and most likely to die, the incidence was up to 61.29% and the
mortality rate was 42.11%. Dogs aged over 12 months were infected with the lowest prevalence
(13.38%) and the mortality rate was 15.79%. Dogs can infect with Parvovirus in all months of the
year, however, the prevalence and mortality rate were highest in the Spring season (49.11% and
41.82%, respectively), followed by the prevalence in the summer season (37.14%), the prevalence
was 28.68% in the fall season and the lowest was in the winter (2.12%). The prevalence and mortality
rate (75.95% and 46.67%, respectively) were the highest in dogs have not been vaccinated against
Parvovirus, those in dogs vaccinated with one dose were 40.94% and 28.32%, respectively; those
in dogs vaccinated with two doses were 5.23% and 11.11%, respectively. The third regimen using
golden tendril leaves to treat dogs infected with Parvovirus would reduce the treatment duration and
the effectiveness was high (4,33 ± 0,28 days and 73,33%).
Keywords: Parvovirus, dogs, epidemiology, treatment, golden tendril, Cao Bang province

10

KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXX SỐ 4 - 2023

I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm gần đây, nền kinh tế của tỉnh
Cao Bằng đang từng bước phát triển, trình độ dân
trí và mức sống của người dân được nâng cao và
cải thiện. Cùng với đó, ngoài nuôi chó để trông
giữ nhà, làm kinh tế, phong trào nuôi chó làm cảnh
cũng dần phổ biến, đặc biệt là trên địa bàn thành
phố. Tuy nhiên, chó là loài động vật rất mẫn cảm
với các tác nhân gây bệnh mà hiểu biết của người
nuôi về cách chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng và
trị bệnh cho chó còn hạn chế nên chó dễ bị nhiễm
bệnh. Các bệnh nội khoa, bệnh truyền nhiễm, bệnh
do ký sinh trùng ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe,
đã và đang làm chết nhiều chó gây tổn hại về tinh
thần, thiệt hại về kinh tế cho nhiều hộ gia đình ở
Cao Bằng. Trong đó phải kể đến bệnh viêm ruột
truyền nhiễm do Parvovirus gây ra. Đây là một
trong những bệnh truyền nhiễm cấp tính nguy hiểm
có tính chất lây lan mạnh, có triệu chứng lâm sàng
dễ lẫn với các bệnh khác như nôn mửa, mệt mỏi,
bỏ ăn. Con vật tiêu chảy phân lẫn máu, giảm thiếu
số lượng bạch cầu, tỷ lệ tử vong cao trên chó con.
Bệnh gây nhiều tổn thất cho ngành chăn nuôi chó
ở phần lớn các quốc gia trên toàn thế giới (Nguyễn
Như Pho, 2003). Để có cơ sở cho việc phòng và hỗ
trợ điều trị bệnh, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu
một số đặc điểm dịch tễ ở chó nhiễm Parvovirus và
hiệu quả sử dụng cây lược vàng (Callisia fragrans)
trong điều trị bệnh, từ đó đưa ra khuyến cáo về biện
pháp phòng và trị bệnh hiệu quả, góp phần giảm
thiểu thiệt hại cho người nuôi chó.

II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Chó nhiễm Parvovirus tới khám và điều trị tại
phòng khám thú y trên địa bàn thành phố Cao Bằng.
2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: Phòng khám thú y
trên địa bàn thành phố Cao Bằng: Hoàng Gia;
Minh Hương; Cao Bằng.
- Thời gian nghiên cứu: tháng 6/2021 - 6/2022.
2.3. Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ ở chó nhiễm

Parvovirus tới khám và điều trị tại phòng khám thú
y trên địa bàn thành phố Cao Bằng.
- Hiệu quả sử dụng cây lược vàng (Callisia
Fragrans) trong điều trị bệnh.
2.4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điều tra dịch tễ học: Tổng hợp
lại các ca bệnh đã được ghi chép trong sổ lưu tại
phòng khám các thông tin về giống chó, nguồn
gốc, tính biệt, độ tuổi, các biểu hiện triệu chứng
lâm sàng, thời gian khám, chó đã tiêm phòng hay
chưa tiêm phòng,…
- Phương pháp chẩn đoán nhanh bằng test kit
Canine Parvovirus Ag (CPV Ag): Dùng que lấy
mẫu bệnh phẩm đưa sâu vào hậu môn của chó để
lấy mẫu phân rồi đưa que chứa bệnh phẩm vào lọ
chứa 1ml chất pha loãng, khấy động xoay tròn để
mầm bệnh hòa vào dung dịch. Dùng ống hút hút
dung dịch rồi nhỏ 4 - 5 giọt vào vùng thử của que
test, đọc kết quả sau 5 - 10 phút. Nếu xuất hiện
một vạch đỏ ở vạch đối chứng C là âm tính, nếu
xuất hiện vạch đỏ ở cả vạch đối chứng C và vạch
mấu T là dương tính.
- Phương pháp thử nghiệm so sánh hiệu quả
phác đồ điều trị bệnh: Theo dõi hỗ trợ điều trị chó
có kết quả dương tính với test CPV Ag trong 5 - 7
ngày, chọn ngẫu nhiên 45 chó bệnh chia thành 3
nhóm (mỗi nhóm 15 chó), điều trị theo 3 phác đồ.
Đánh giá sự tiến triển của bệnh thông qua sự phục
hồi thể trạng, trạng thái sinh lý của chó bệnh dựa
vào một số chỉ tiêu như giảm nôn, giảm tiêu chảy,
ăn uống bình thường, tính chất phân, chó tỉnh táo,
nhanh nhẹn, linh hoạt,… chó còn sống, trạng thái
bệnh được phục hồi.
* Điều trị chung:
- Truyền tĩnh mạch Natri clorid 0,9% + Glucose
5% liều 125ml/10kgTT/lần, 02 lần/ngày. Đối với
chó nhỏ hoặc quá yếu không truyền tĩnh mạch
được thì tiêm xoang phúc mạc.
- Glucose 50g pha 500ml nước uống/ngày.
- Atropin sunphat 0,1% tiêm dưới da liều
1ml/10kgTT đối với chó có biểu hiện nôn.
- Vitamin K tiêm bắp liều 0,1mg/kgTT đối với
chó có hiện tượng tiêu chảy phân lẫn máu.

11

KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXX SỐ 4 - 2023

* Phác đồ 1:
- Gentamox:
+ Thành phần: Gentamycin 0,4g; Amoxicilin
1,5g; dung môi 10ml.
+ Liều lượng: 1ml/10kgTT/ngày, tiêm bắp thịt.
- Catosal:
+ Thành phần: Butaphosphan 10%, Vitamin
B1, B6, B12, PP.
+ Liều lượng: 1ml/10kgTT/ngày, tiêm bắp thịt.
* Phác đồ 2:
- Ceftiofur 5%:
+ Thành phần: Ceftiofur 500mg; Dexamethazol
50mg; dung môi 10ml.
+ Liều lượng: 1ml/10kgTT/ngày, tiêm bắp thịt.
- Catosal:
+ Thành phần: Butaphosphan 10%, Vitamin
B1, B6, B12, PP.
+ Liều lượng: 1ml/10kgTT/ngày, tiêm bắp thịt.
* Phác đồ 3:

muối thô, 10ml nước sạch, xay hoặc giã nát rồi
vắt lấy nước cốt. Lượng lá cây tùy theo thể trọng
của chó.
+ Chia uống 3 lần/ngày.
- Catosal:
+ Thành phần: Butaphosphan 10%, Vitamin
B1, B6, B12, PP.
+ Liều lượng: 1ml/10kgTT/ngày, tiêm bắp thịt.
- Probiotic:
+ Thành phần: Lactobacillus acidophilus,
Bacillus subtilis, Saccharomyces cerevisiarae,
Aspergillus oryzae, Folic acid, Nicotinamide,
Vitamin A, D3, B1.
+ Liều lượng: 2,5 - 5g/con/ngày.
2.5. Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu thu thập được được xử lý theo phương
pháp thống kê sinh vật học, theo tài liệu của
Nguyễn Xuân Trạch, Đỗ Đức Lực (2016) và phần
mềm Microsoft Excel 2010.

- Lá cây lược vàng (Callisia Fragrans):

III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

+ Dùng 3 - 5 lá tươi rửa sạch, thêm 5 - 7 hạt

3.1. Tỷ lệ chó mắc bệnh và chết do Parvovirus

Bảng 1. Tỷ lệ chó mắc bệnh và chết do Parvovirus
Địa điểm
(Phòng khám)

Số chó theo
dõi (con)

Số chó mắc
bệnh (con)

Tỷ lệ
mắc bệnh
(%)

Số chó
chết (con)

Tỷ lệ chết
(%)

1

Hoàng Gia

195

82

42,05

24

29,27

2

Minh Hương

149

34

22,82

11

41,18

3

Cao Bằng

183

66

36,07

26

39,39

527

182

34,54

61

33,52

STT

Tính chung

Kết quả thể hiện ở bảng 1 cho thấy, trong
tổng số 527 ca đến khám chữa bệnh có 182 ca
nhiễm Parvovirus, chiếm 34,54%. Qua quá trình
hỏi bệnh để tiến hành chẩn đoán, chúng tôi thấy
người nuôi còn thiếu kiến thức về chăm sóc nuôi
dưỡng và phòng bệnh cho chó. Các bệnh truyền
nhiễm ít được biết đến hoặc biết nhưng không
quan tâm, không tiêm phòng cho chó do chi phí
cao. Do vậy, tỷ lệ mắc bệnh cao.
Trong tổng số 182 ca nhiễm có 61 ca nhiễm
bệnh chết, chiếm 33,52%. Chúng tôi cho rằng, tỷ
lệ chết do nhiễm Parvovirus cao do bệnh chưa có

12

thuốc đặc trị, các ca bệnh được đưa tới khám và
chẩn đoán muộn. Nhiều ca bệnh được người nuôi
tự điều trị tại nhà nhiều ngày không khỏi mới đưa
đến phòng khám trong tình trạng chó đã quá yếu,
khó khăn trong quá trình điều trị bệnh.
3.2. Tỷ lệ chó nhiễm Parvovirus theo giống
Hiện nay, phong trào nuôi chó cảnh tại Cao
Bằng đang dần phát triển, các giống chó nhập
nội và chó lai được nuôi ngày càng tăng. Người
nuôi chó cảnh cũng quan tâm tới sức khỏe của
chúng hơn chó ta nuôi để giữ nhà. Do vậy, lượng

KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXX SỐ 4 - 2023

chó nhập nội và chó lai được đưa tới khám cao
hơn so với cho nội. Nhóm chó nội thường ít

được quan tâm hơn nên lượng chó nội được đưa
đến khám thấp hơn.

Bảng 2. Tỷ lệ chó nhiễm Parvovirus theo giống
Số chó theo
dõi (con)

Số chó
mắc bệnh
(con)

Tỷ lệ
mắc bệnh (%)

Số chó
chết (con)

Tỷ lệ chết
(%)

Nội

97

28

28,87

8

28,57

Nhập nội

139

65

46,76

25

38,46

Lai

291

89

30,58

28

31,46

527

182

34,54

61

33,52

Giống chó

Tính chung

Kết quả ở bảng 2 cho thấy tỷ lệ mắc bệnh của
các giống chó là khác nhau, sự khác biệt có ý nghĩa
về mặt thống kê (P<0,05). Tỷ lệ mắc bệnh của chó
nhập nội là cao nhất (chiếm 46,76%), thấp nhất là
chó nội (chiếm 28,87%). Nhóm chó nội có sức khỏe
tốt, thích nghi với điều kiện ngoại cảnh ở địa phương
và không đòi hỏi cao về chăm sóc nuôi dưỡng nên
có sức đề kháng cao hơn với bệnh, tỷ lệ nhiễm bệnh
thấp hơn. Chó nhập nội thích nghi kém hơn với thời
tiết khí hậu ở địa phương. Mặt khác, nhóm chó này
yêu cầu cao về kỹ thuật chăm sóc nôi dưỡng. Cao
bằng là tỉnh miền núi, phong trào nuôi chó cảnh
bước đầu mới phát triển, hiểu biết của người nuôi
về kỹ thuật nuôi và phòng bệnh cho chó còn hạn chế
nên tỷ lệ nhiễm bệnh ở nhóm chó nhập nội cao hơn.
Nhóm chó lai được sinh tại địa phương nên khả năng

thích nghi cũng cao hơn chó nhập nội. Chó có sức
đề kháng tốt hơn với bệnh nên tỷ lệ nhiễm chiếm
30,58%, thấp hơn chó nhập nội. Kết quả nghiên cứu
của chúng tôi phù hợp với kết quả nghiên cứu của Tô
Du và Xuân Giao (2006).
Tỷ lệ chó nhiễm bệnh chết của nhóm chó nhập
nội chiếm 38,46%, cũng cao hơn nhóm chó nội
(chiếm 28,57%). Từ kết quả nghiên cứu chúng tôi
thấy tất cả các giống chó đều có nguy cơ nhiễm
Parvovirus, nhưng mức độ cảm nhiễm khác nhau.
Bệnh tiến triển khiến chó nhanh suy kiệt, nhất là ở
nhóm chó ngoại. Kết quả này phù hợp với kết quả
nghiên cứu của Candlish (1998).
3.3. Tỷ lệ chó nhiễm Parvovirus theo lứa tuổi

Bảng 3. Tỷ lệ chó nhiễm Parvovirus theo lứa tuổi
Tuổi (tháng)

Số chó theo dõi
(con)

Số chó mắc
bệnh (con)

Tỷ lệ nhiễm
(%)

Số chó chết
(con)

Tỷ lệ chết
(%)

≤2

116

46

39,65

13

28,26

>2-6

124

76

61,29

32

42,11

> 6 - 12

145

41

28,28

13

31,71

> 12

142

19

13,38

3

15,79

Tính chung

527

182

34,54

61

33,52

Kết quả ở bảng 3 cho thấy tỷ lệ chó nhiễm bệnh
ở các lứa tuổi có sự khác biệt rõ rệt, sự khác biệt
có ý nghĩa về mặt thống kê (P<0,05). Tỷ lệ chó
nhiễm bệnh ở giai đoạn 2 - 6 tháng tuổi cao nhất,
chiếm 61,29%; chó dưới 2 tháng tuổi là 39,65%;
chó 6 đến 12 tháng tuổi là 28,28% và thấp nhất
là chó trên 12 tháng tuổi, chiếm 13,38%. Kết quả

này phù hợp với nghiên cứu của các tác giả Vương
Đức Chất và Lê Thị Tài (2004), Trần Thanh Phong
(1996) là chó từ 6 tuần tuổi đến 6 tháng tuổi nhiễm
Parvovirus là cao nhất.
Tỷ lệ chó nhiễm bệnh cao nhất ở giai đoạn
2 - 6 tháng tuổi là 61,29%; cao hơn kết quả của
các tác giải Nguyễn Thị Quyên và cs. (2018), tỷ

13

KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXX SỐ 4 - 2023

lệ nhiễm bệnh Parvovirus cao nhất ở giai đoạn từ
2 - 6 tháng tuổi (51,35%); Phan Thị Hồng Phúc và
cs. (2019), tỷ lệ nhiễm bệnh Parvovirus cao nhất ở
giai đoạn từ 2 - 6 tháng tuổi (48,95%).
Theo Trần Ngọc Bích và cs. (2013), chó dưới 4
tháng tuổi bắt đầu phát triển và hoàn thiện dần các bộ
phận và chức năng của cơ thể, hệ tiêu hóa hoàn thiện
hơn. Chó con chuyển từ bú sữa mẹ sang ăn thức ăn,
các biểu mô ruột phát triển mạnh mẽ tạo điều kiện
thuận lợi để Parvovirus tấn công.
Theo chúng tôi, chó con chủ yếu lấy kháng thể
từ sữa đầu của mẹ. Qua thời gian, lượng kháng thể
giảm dần, cơ thể chó con chưa phát triển toàn diện,
chưa có khả năng hình thành kháng thể từ cảm
thụ tự nhiên nên khả năng nhiễm bệnh cao. Đặc
biệt, chó thường được cai sữa mẹ trong khoảng từ
2 tháng tuổi. Lúc này cơ thể đang dần phát triển
nhưng chưa hoàn thiện. Chó con bị thay đổi cả
môi trường sống và loại thức ăn nên ảnh hưởng
lớn đến sức khỏe, tạo điều kiện cho mầm bệnh

xâm nhập và phát triển. Do vậy chó ở giai đoạn
2 - 6 tháng tuổi có khả năng cảm nhiễm cao nhất,
tiếp đó là chó dưới 2 tháng tuổi.
Chó sau 6 tháng tuổi đã thích nghi với điều kiện
thay đổi, cơ thể cũng dần hoàn thiện hơn nên khả
năng cảm nhiễm bệnh giảm. Chó trên 12 tháng
tuổi đã trưởng thành, thích nghi với điều kiện môi
trường và có khả năng hình thành kháng thể từ
cảm thụ tự nhiên nên sức đề kháng với bệnh cao
hơn, tỷ lệ nhiễm bệnh thấp hơn những giai đoạn
trước đó. Kết quả này phù hợp với nhận định của
MCCandlish I (1999) cho rằng, chó càng lớn thì tỷ
lệ nhiễm sẽ càng giảm dần.
Tỷ lệ chó chết do nhiễm Parvovirus ở giai đoạn
2 - 6 tháng tuổi là cao nhất (chiếm 42,11%), tiếp
đó là giai đoạn 6 - 12 tháng tuổi (chiếm 31,71%),
giai đoạn dưới 2 tháng tuổi là 28,26% và thấp nhất
là giai đoạn trên 12 tháng tuổi (chiếm 15,79%).
3.4. Tỷ lệ chó nhiễm Parvovirus theo mùa vụ

Bảng 4. Tỷ lệ chó nhiễm Parvovirus theo mùa vụ
Mùa

Số chó theo dõi
(con)

Số chó bệnh
(con)

Tỷ lệ nhiễm
(%)

Số chó chết
(con)

Tỷ lệ chết
(%)

Xuân

112

55

49,11

23

41,82



175

65

37,14

19

29,23

Thu

136

39

28,68

13

33,33

Đông

104

23

2,12

6

26,09

Tính chung

527

182

34,54

61

33,52

Điều kiện ngoại cảnh về thời tiết khí hậu, đặc
biệt là nhiệt độ và độ ẩm có ảnh hưởng lớn tới sự
phát triển của các loại vi rút, vi khuẩn gây bệnh
cũng như sức khỏe và sự sinh trưởng phát triển của
vật nuôi. Cao Bằng là một tỉnh miền núi phía Bắc
Việt Nam, thời tiết trong năm được chia thành bốn
mùa rõ rệt. Chúng tôi đã tiến hành khảo sát theo dõi
chó đến khám chữa bệnh tại các phòng khám để
nghiên cứu ảnh hưởng của mùa vụ tới tỷ lệ nhiễm
Parvovirus. Kết quả thu được ở bảng 4 cho thấy tỷ
lệ nhiễm Parvovirus trong mùa Xuân là cao nhất
(chiếm 49,11%), tiếp theo là mùa Hè 37,14%, mùa
Thu 28,68% và thấp nhất là mùa Đông 2,12%; sự
sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0,05). Kết quả này
phù hợp với nghiên cứu của các tác giả Nguyễn
Văn Thanh và cs. (2012) cho rằng, chó nhiễm

14

Parvovirus ở các tháng trong năm, nhưng bệnh
xảy ra nhiều nhất vào mùa Xuân Hè. Khác với tác
giả D.M. Houston (1996) cho biết, tỷ lệ chó nhiễm
Parvovirus cao nhất ở tháng 7, tháng 8 và tháng 9,
tỷ lệ này cao gấp 3 lần so với các tháng trong năm.
Mùa xuân có nhiệt độ thấp, mưa nồm, độ ẩm
cao. Mùa hè có nhiệt độ cao, mưa nhiều, độ ẩm
cao. Điều kiện thời tiết trong hai mùa này rất thuận
lợi cho mầm bệnh phát triển. Do vậy, tỷ lệ nhiễm
Parvovirus trong mùa xuân và mùa hè cao. Ngược
lại, mùa đông thời tiết lạnh khô, kìm hãm sự phát
triển của mầm bệnh nên tỷ lệ nhiễm Parvovirus là
thấp nhất. Cùng với đó, tỷ lệ chó chết do nhiễm
Parvovirus trong mùa Xuân là cao nhất (chiếm
41,82%), tiếp theo là mùa Thu 33,33%, mùa Hè

KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXX SỐ 4 - 2023

29,23% và thấp nhất là mùa Đông 26,09%. Thời tiết
mùa Xuân và mùa Thu có sự chuyển biến nhanh, sự
chênh lệch nhiệt độ, độ ẩm ngày và đêm lớn, ảnh
hưởng tới sức khỏe và sức đề kháng của cơ thể vật
nuôi. Do vậy, chó nhiễm bệnh trong hai mùa này có

khả năng chống lại mầm bệnh kém hơn, dẫn đến tỷ
lệ chó chết do nhiễm Parvovirus cao.
3.5. Tỷ lệ nhiễm Parvovirus ở chó được tiêm
phòng và chó chưa tiêm phòng

Bảng 5. Tỷ lệ nhiễm Parvovirus ở chó được tiêm phòng và chó chưa tiêm phòng
Số chó theo
dõi (con)

Số mũi tiêm vắc xin

Số chó
bệnh (con)

Tỷ lệ nhiễm
(%)

Số chó chết
(con)

Tỷ lệ chết
(%)

Chưa được tiêm vắc xin

79

60

75,95

28

46,67

Đã được tiêm vắc xin 1 mũi

276

113

40,94

32

28,32

Đã được tiêm vắc xin 2 mũi

172

09

5,23

01

11,11

Tính chung

527

182

34,54

61

33,52

Kết quả ở bảng 5 cho thấy tỷ lệ nhiễm Parvovirus
ở chó chưa được tiêm vắc xin là cao nhất (75,95%).
Chó tiêm 1 mũi vắc xin có tỷ lệ nhiễm 40,94%. Chó
tiêm 2 mũi vắc xin có tỷ lệ nhiễm thấp nhất 5,23%.
Như vậy, việc tiêm vắc xin cho chó cho hiệu quả
phòng bệnh tốt. Kết quả này phù hợp với nhận định
của tác giả Ling và cs. (2012) cho rằng những chó đã
được tiêm vắc xin trong vòng một năm vẫn có khả
năng nhiễm Parvovirus nhưng tỷ lệ rất thấp (3,3%).
Tỷ lệ chết do nhiễm Parvovirus ở chó chưa
được tiêm vắc xin là cao nhất (46,67%). Chó
tiêm 1 mũi vắc xin có tỷ lệ chết 28,32%. Chó
tiêm 2 mũi vắc xin có tỷ lệ chết thấp nhất
11,11%. Điều này cho thấy, việc sử dụng vắc
xin để phòng bệnh không đạt hiệu quả tuyệt đối.
Tuy nhiên, chó được tiêm phòng sẽ tạo được đáp
ứng miễn dịch nhất định trong cơ thể. Khi nhiễm
bệnh sẽ có khả năng đề kháng vi rút tốt hơn chó
chưa được tiêm phòng, giúp cho việc điều trị đạt
hiệu quả cao hơn, tỷ lệ chết thấp hơn.

Chó được tiêm phòng vẫn có khả năng nhiễm bệnh
và chết là do cơ thể chó không tạo được đáp ứng miễn
dịch với vắc xin, do tiêm phòng không đúng lịch, do
bảo quản vắc xin không đúng cách, do vắc xin không
đảm bảo chất lượng hoặc do tiêm vắc xin vào thời kỳ ủ
bệnh, không phát hiện triệu chứng,… Do vậy, việc sử
dụng vắc xin để phòng bệnh cho chó là rất quan trọng.
Cần chú ý đến việc bảo quản và sử dụng vắc xin đúng
cách, tiêm vắc xin đầy đủ và đúng quy trình, chăm sóc
nuôi dưỡng tốt để đạt hiệu quả phòng bệnh cao nhất.
3.6. Hiệu quả của phác đồ điều trị chó nhiễm
Parvovirus
Chúng tôi tiến hành điều trị cho chó bệnh
theo nguyên tắc điều trị chung là chủ yếu điều
trị triệu chứng, tăng cường sức đề kháng cho chó
bệnh bằng các chất cân bằng điện giải, tăng cường
trợ sức trợ lực và sử dụng kháng sinh chống các
bệnh kế phát. Sử dụng 3 phác đồ điều trị khác
nhau. Kết quả điều trị cho thấy:

Bảng 6. Hiệu quả của phác đồ điều trị chó nhiễm Parvovirus
Kết quả điều trị

Phác đồ

Số con điều trị
(con)

Số ngày điều trị
(ngày)

Số con khỏi (con)

Tỷ lệ khỏi (%)

1

15

6,07 ± 0,26

8

53,33

2

15

5,93 ± 0,31

9

60,0

3

15

4,33 ± 0,28

11

73,33

Tính chung

45

28

62,22

Phác đồ 1: Sử dụng sản phẩm kết hợp 2 loại
kháng sinh Gentamycin và Amoxycylin điều trị 15

con, khỏi bệnh 08 con, đạt tỷ lệ 53,33%, thời gian
điều trị trung bình là 6,07 ± 0,26 ngày.

15

KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXX SỐ 4 - 2023

Phác đồ 2: Sử dụng sản phẩm kết hợp kháng sinh
Ceftiofur hàm lượng 5% và Dexamethazol 50mg
điều trị 15 con, khỏi bệnh 09 con, đạt tỷ lệ 60,0%,
thời gian điều trị trung bình là 5,93 ± 0,31 ngày.
Phác đồ 3: Sử dụng nước cốt lá cây lược vàng
(Callisia Fragrans) và Probiotic điều trị 15 con,
khỏi bệnh 11 con, đạt tỷ lệ 73,33%, thời gian điều
trị trung bình là 4,33 ± 0,28 ngày.
So sánh 3 phác đồ điều trị trên, chúng tôi thấy
điều trị bằng phác đồ 2 cho hiệu quả cao hơn phác
đồ 1 (tỷ lệ khỏi bệnh cao hơn 6,67%; thời gian
điều trị trung bình ngắn hơn 0,14 ngày). Theo
chúng, nhóm kháng sinh Gentamycin - Amoxicilin
và Ceftiofur chống các bệnh kế phát có hiệu quả
không chênh lệch, phác đồ 2 cho hiệu quả cao hơn
là do trong thuốc có hoạt chất Dexamethazol giúp
giảm các ổ viêm trong đường tiêu hóa.
Phác đồ 3 cho hiệu quả cao hơn phác đồ 1 (Tỷ
lệ khỏi bệnh cao hơn 20%; thời gian điều trị trung
bình ngắn hơn 1,74 ngày), cao hơn phác đồ 2 (tỷ lệ
khỏi bệnh cao hơn 13,33%; thời gian điều trị trung
bình ngắn hơn 1,6 ngày).
Bệnh viêm ruột truyền nhiễm ở chó do Parvovirus
là một bệnh do vi rút gây ra, chưa có thuốc đặc trị.
Chúng tôi thấy việc điều trị cần hướng đến điều trị
theo triệu chứng và tăng cường sức đề kháng, trợ sức
trợ lực cho chó là quan trọng. Đồng thời, cần bổ sung
chất cân bằng điện giải và chống nhiễm khuẩn kế phát.
Theo Lobetti (2003), truyền dịch Natri clorid
0,9% và Glucose 5% giúp bù lượng nước và chất
điện giải bị mất theo phân ra ngoài một cách hiệu
quả nhằm giúp cơ thể chống chọi với bệnh để vượt
qua giai đoạn suy kiệt.
Chúng tôi sử dụng nước cốt lá cây lược vàng
(Callisia Fragrans) trong quá trình điều trị. Cây
lược vàng (Callisia Fragrans) là dược liệu tính
mát, có khả năng thanh nhiệt, giải độc, hoạt huyết,
cầm máu, tăng miễn dịch, kháng viêm, tiêu viêm,
sát khuẩn, tăng sức đề kháng tế bào, kích thích quá
trình sản sinh tế bào, giảm đau hiệu quả.
Theo Nguyễn Minh Khởi (2010), Olennikov
D.N. và cs. (2008) đã phân lập dịch ép cây lược vàng
được hàm lượng các nhóm hợp chất phenol chính
là: 0,14% coumarin (umbelliferon, scopoletin),
0,008% anthraquinon (aloe-emodin), 0,37% axit

16

phenolic (axit gallic, caffeic và chicoric), 0,05%
flavonoid (kaempferol, quercetin).
Chất flavonoid đóng vai trò như vitamin PP, có
khả năng làm bền thành mạch máu, an thần, giảm
đau, kháng viêm, hoạt huyết và tăng tác dụng của
vitamin C. Quercetin là một flavonoid có nhiều tác
dụng sinh học đáng chú ý như chống viêm, chống
oxy hóa, bảo vệ gan, điều biến miễn dịch, tăng
sức bền thành mạch, có khả năng cầm máu tốt.
Quercetin có tác dụng chống viêm thông qua điều
hòa sự tăng các gen tiền viêm.
Theo Lee (2010) cho biết Kaempferol trong cây
lược vàng có tác dụng củng cố mao mạch, nâng cao
thể trạng, và có khả năng kháng viêm, ngăn cản sự
phát triển của chứng viêm dị ứng của các mô tế bào
đường ruột (dẫn theo Nguyễn Minh Khởi, 2010).
Như vậy, sử dụng lá cây lược vàng giúp giảm
ổ viêm, cầm máu và ức chế sự phát triển của vi
khuẩn có hại trong đường tiêu hóa, giúp phục hồi
chức năng ruột.
Đồng thời, việc sử dụng Probiotic bổ sung các
vitamin và vi khuẩn có lợi, ức chế các vi khuẩn có
hại trong đường ruột, giúp giảm tiêu chảy. Nhờ
vậy, việc sử dụng lá cây lược vàng cho hiệu quả
điều trị cao hơn, thời gian điều trị ngắn hơn, chó
phục hồi nhanh và mau khỏe hơn.
Phác đồ điều trị sử dụng lá cây lược vàng (Callisia
Fragrans) và Probiotic cho hiệu quả điều trị cao, rút
ngắn thời gian điều trị, giúp chó nhiễm bệnh sớm
phục hồi thể trạng. Lá cây lược vàng là dược liệu dễ
kiếm ở tỉnh miền núi như Cao Bằng. Phác đồ điều
trị này có chi phí thấp, không đòi hỏi kỹ thuật cao,
người nuôi ở miền núi xa các phòng khám thú y cũng
có thể tự sử dụng điều trị tại nhà chó chó ngay khi
mới phát hiện chó có triệu chứng mệt mỏi. Đồng
thời, phác đồ không sử dụng kháng sinh giúp việc
phòng tránh hiện tượng kháng kháng sinh ở vật nuôi.
Tuy nhiên, thời gian và khả năng phục hồi của
chó bệnh còn liên quan tới nhiều yếu tố. Đặc biệt
là việc phát hiện ca bệnh sớm có ý nghĩa quan
trọng. Phần lớn, chó được đưa đến phòng khám
khi bệnh đã tiến triển nặng nên hiệu quả điều trị
của cả 3 phác đồ chưa cao. Phát hiện chó có biểu
hiện mệt mỏi, ủ rũ để sớm chẩn đoán và điều trị sẽ
cho kết quả cao hơn.

KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXX SỐ 4 - 2023

IV. KẾT LUẬN
Dùng phương pháp test kit Canine Parvovirus
Ag (CPV Ag) 527 chó đến khám chữa bệnh tại
các phòng khám trên địa bàn thành phố Cao Bằng,
có 182 chó dương tính với Prvovirus, chiếm tỷ
lệ 34,54%. Trong tổng số 182 ca nhiễm có 61 ca
nhiễm bệnh chết, chiếm 33,52%.
Tất cả các giống chó đều có nguy cơ nhiễm
Parvovirus, nhưng mức độ cảm nhiễm khác nhau.
Tỷ lệ mắc bệnh của chó nhập nội là cao nhất (chiếm
46,76%), thấp nhất là chó nội (chiếm 28,87%).
Có sự khác biệt về tỷ lệ chó nhiễm và chết do
Parvovirrus theo lứa tuổi. Chó ở giai đoạn 2 - 6
tháng tuổi tỷ lệ nhiễm cao nhất, chiếm 61,29%; tỷ
lệ chết 42,11%. Chó trên 12 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm
thấp nhất chiếm 13,38%, tỷ lệ chết 15,79%.
Chó nhiễm Parvovirus ở tất cả các tháng trong
năm nhưng tỷ lệ mắc và chết cao nhất vào mùa Xuân
(49,11% và 41,82%), tiếp theo là mùa Hè 37,14%,
mùa Thu 28,68% và thấp nhất là mùa Đông 2,12%.
Tỷ lệ nhiễm Parvovirus ở chó chưa được tiêm
vắc xin là cao nhất (75,95%), chó tiêm 1 mũi vắc
xin là 40,94%; chó tiêm 2 mũi vắc xin có tỷ lệ
nhiễm thấp nhất 5,23%. Như vậy, việc tiêm vắc xin
cho chó cho hiệu quả phòng bệnh tốt. Cần chú ý đến
việc bảo quản và sử dụng vắc xin đúng cách, tiêm
vắc xin đầy đủ và đúng quy trình, chăn sóc nuôi
dưỡng tốt để đạt hiệu quả phòng bệnh cao nhất.
Điều trị chó nhiễm Parvovirus theo nguyên
tắc điều trị chung là chủ yếu điều trị triệu chứng,
tăng cường sức đề kháng cho chó bệnh bằng các
chất cân bằng điện giải, tăng cường trợ sức trợ lực
và sử dụng kháng sinh chống các bệnh kế phát. Sử
dụng 3 phác đồ điều trị bệnh khác nhau cho hiệu
quả điều trị trên 50%. Phác đồ 3 bổ sử dụng lá cây
lược vàng (Callisia Fragrans) hỗ trợ điều trị cho
hiệu quả cao nhất (đạt tỷ lệ khỏi bệnh 73,33%, thời
gian điều trị trung bình là 4,33 ± 0,28).

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trần Ngọc Bích, Trần Thị Thảo, Nguyễn Thị Yến

Mai, Nguyễn Quốc Việt (2013), Khảo sát tỷ lệ bệnh
do Parvovirus trên chó từ 1 - 6 tháng tuổi tại Thành
phố Cần Thơ, Tạp chí khoa học Trường Đại học Cần
Thơ, tr. 17-18.

2. Candlish Mc (1998), Canine Parvovirus infection, In
NeilT. German, Canine Medicine and Therapeutics,
Fourth edition, pp.127-130.
3. Vương Đức Chất, Lê Thị Tài (2004), Bệnh thường gặp ở
chó, mèo và cách phòng trị, NXB Nông nghiệp, tr. 40-45.
4. D.M. Houston, C.S. Ribble, L.L Head, (1996) Risk
factors associated with parvovirus enteritis in dogs. J
Am Vet Med Assoc.
5. Tô Du, Xuân Giao (2006), Kỹ thuật nuôi chó mèo và
phòng trị bệnh thường gặp, NXB Lao động xã hội, tr. 9-11.
6. Olennikov D.N., Zilficarov I.N., Toronova A.A.,
Ibragimov T.A. (2008), Chemical composition of Callisia
fragrans juice and it's antioxydant activity in vitro,
Chemistry of natural compounds, Vol. 44 (4), 95-100.
7. Lobetti (2003), Canine Parvovirus and Distemper, In
28 th World congress of world small animal veterinary
association, October 24-27-2003, Bangkok, Thailand.
8. Ling M, Norris J. M, Kelman M, Ward M. P (2012),
Risk factors for death from canineparvoviral-related
disease in Australia.Vet Microbio 158 (3-4): 280-90.
9. McCandlish I (1999), Speccifection of dog. In John
Dunn, Textbook of small animal medicine, W.B.
Saunders, London, United Kingdom, pp. 921-926.
10. Nguyễn Minh Khởi (2010), Nghiên cứu tác dụng
sinh học của cây lược vàng Callisia Fragrans (Lindl.)
woods., Báo cáo kết quả đề tài nghiên cứu cấp bộ.
11. Trần Thanh Phong (1996), Một số bệnh truyền nhiễm
chính trên chó, Tủ sách Trường Đại học Nông Lâm TP
Hồ Chí Minh, tr. 69-77.
12. Phan Thị Hồng Phúc, Nguyễn Văn Lương, Lê Thị
Khánh Hòa, La Văn Công (2019), “Nghiên cứu một số
đặc điểm dịch tễ ở chó mắc bệnh parvo tại bệnh xá thú
y, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”, Tạp chí
Khoa học Kỹ thuật Thú y, 8(26).
13. Nguyễn Như Pho (2003), Bệnh Parvovisus và Care
trên chó, NXB Nông nghiệp.
14. Nguyễn Thị Quyên, Bùi Thị Hải Yến, Hoàng Thị
Phương Thúy, Bùi Thị Sao Mai (2018), “Một số đặc
điểm bệnh viêm ruột truyền nhiễm do Parvovirus gây
ra trên chó và thử nghiệm điều trị”, Tạp chí khoa học
kỹ thuật thú y, 8: 35-40.
15. Nguyễn Văn Thanh, Vũ Như Quán, Nguyễn Hoài Nam
(2012), Giáo trình Bệnh của chó mèo, NXB Đại học
Nông nghiệp Hà Nội, tr. 54-58.
16. Nguyễn Xuân Trạch và Đỗ Đức Lực (2016), Giáo trình
phân tích số liệu thí nghiệm và công bố kết quả nghiên
cứu chăn nuôi, Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội.

Ngày nhận 27-8-2022
Ngày phản biện 15-9-2022
Ngày đăng 1-6-2023

17
 
Gửi ý kiến

Trang website được tạo nên để chia sẻ tài nguyên học tập cho sinh viên nhóm ngành Sinh học - Các nội dung cập nhật đã được ghi rõ nguồn gốc.

Website chẩn đoán hình ảnh

http://w3.vet.cornell.edu

Website dược lý thú y

http://www.nottingham.ac.uk/nursing/sonet/rlos/bioproc/vd/2.html

Website sách hay

http://www.ebook.edu.vn/