Chào mừng quý vị đến với website của Phan Thị Hồng Phúc - Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành
viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của
Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Gà đầu đen

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Phan Thị Hồng Phúc (trang riêng)
Ngày gửi: 15h:51' 29-05-2025
Dung lượng: 863.7 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Phan Thị Hồng Phúc (trang riêng)
Ngày gửi: 15h:51' 29-05-2025
Dung lượng: 863.7 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
KHOA HOÏC KYÕ THUAÄT
JOURNAL OF VETERINARY SCIENCE AND TECHNOLOGY
ISSN 1859 - 4751
HAPPY NEW YEAR
GIÁP THÌN
Taäp XXXI Soá 1 - 2024
HOÄI THUÙ Y VIEÄT NAM
VIETNAM VETERINARY ASSOCIATION
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXXI SỐ 1 - 2024
MUÏC LUÏC
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
• NGUYỄN TRUNG TIẾN, HOÀNG THỊ THU HƯƠNG, LA THỊ HƯƠNG, VŨ THỊ MỸ HẠNH,
PHẠM QUANG TRUNG, TRẦN TIẾN QUÂN, TẠ HOÀNG LONG, ĐOÀN THỊ THANH
HƯƠNG, NGUYỄN THỊ THU HIỀN, VŨ NGỌC HIỆU, NGÔ THỊ THU HƯƠNG
Định danh chủng virus gây bệnh viêm phế quản truyền nhiễm ở gà (infectious bronchitis virus)
bằng phương pháp sinh học phân tử
• ĐẶNG THỊ MAI LAN, PHAN THỊ LAN HƯƠNG, CHU LÂM HUY
Nghiên cứu một số triệu chứng lâm sàng và đặc điểm bệnh lý của gà mắc bệnh viêm phế quản
truyền nhiễm (IB)
• NGUYỄN THỊ KIM OANH, NGUYỄN THỊ HUYỀN, VŨ ĐĂNG THẮNG, NGUYỄN ĐĂNG
HỒNG NGỌC, NGUYỄN THANH LOAN, ÂU XUÂN KHOA, VŨ THỊ LAN HƯƠNG, NGUYỄN
THỊ THÚY MẬN, NGÔ VĂN BẮC, TRƯƠNG ĐÌNH HOÀI
Nghiên cứu về sự lưu hành của virus DIV1 gây bệnh trên tôm nuôi tại Việt Nam
• ĐỖ TIẾN DUY, ĐẶNG HOÀNG KIM, NGÔ THỊ NGỌC TRÂM, ĐINH XUÂN PHÁT, NGUYỄN
THỊ THU NĂM, NGUYỄN THỊ PHƯƠNG TRANG, NGUYỄN MINH NAM, NGUYỄN TẤT TOÀN
Sự đồng nhiễm và đặc trưng kiểu gen của porcine circovirus type 2 và 3 trên heo có dấu hiệu rối
loạn sinh sản và hô hấp
• CHU THỊ THANH HƯƠNG, ĐINH THỊ DIỆP ANH, TRƯƠNG LAN OANH, TRƯƠNG HÀ THÁI
Một số đặc điểm bệnh tụ huyết trùng trên vịt nuôi tại các trang trại thuộc huyện Tam Dương, tỉnh
Vĩnh Phúc
• CAM THỊ THU HÀ, HOÀNG MINH ĐỨC, PHẠM HỒNG NGÂN
Nghiên cứu khả năng kháng kháng sinh của vi khuẩn Escherichia coli phân lập từ thịt gà và thịt lợn
tại huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội
• HOÀNG MINH ĐỨC, CAM THỊ THU HÀ, HOÀNG MINH SƠN, TRẦN THỊ KHÁNH HOÀ
Nghiên cứu tính kháng kháng sinh của vi khuẩn Salmonella phân lập từ thịt gà và thịt lợn bán tại
chợ trên địa bàn quận Long Biên, thành phố Hà Nội
• NGUYỄN XUÂN HOÀ, PHẠM THÁI BÌNH, PHAN THỊ HẰNG, HỒ KHẢ HỒNG ĐỨC,
NGUYỄN THỊ HOA, LÊ MINH ĐỨC, LÊ THỊ HOÀI CHÚC, PHAN VŨ HẢI
Phân lập và tuyển chọn chủng vi khuẩn Bacillus subtilis tiềm năng sử dụng sản xuất chế phẩm sinh học
• PHAN THỊ HỒNG PHÚC, DƯƠNG THỊ HỒNG DUYÊN, DƯƠNG THỊ THU
Một số đặc điểm dịch tễ của bệnh do trùng đơn bào H. meleagridis gây ra ở gà nuôi tại huyện Phú
Bình, tỉnh Thái Nguyên và biện pháp điều trị
• ĐÀO THỊ HÀ THANH, DƯƠNG NHƯ NGỌC, NGUYỄN HOÀI NAM, NGUYỄN ĐỨC TRƯỜNG,
NGUYỄN THỊ LAN ANH, ĐỖ THỊ THU THUÝ, ĐOÀN HỮU HOÀN, NGUYỄN THỊ BÍCH THUỶ
Nghiên cứu thiết lập nested-PCR ứng dụng trong chẩn đoán bệnh tiên mao trùng gây bởi loài
Trypanosoma evansi trên ngựa
• VÕ THỊ HUỲNH NHƯ, NGUYỄN THÀNH ĐỨC NGHĨA, NGUYỄN VĂN VUI
Ảnh hưởng của việc bổ sung tinh dầu lá húng quế (Ocimum basilicum) vào môi trường pha loãng
lên chất lượng tinh trùng gà trong bảo quản lạnh
1
9
20
29
37
46
55
64
72
77
83
NÂNG CAO - THAM KHẢO
• TỔ CHỨC Y TẾ THẾ GIỚI
An toàn thực phẩm và sức khỏe cộng đồng
92
TRAO ĐỔI KHKT - HOẠT ĐỘNG NGÀNH
• CỤC THÚ Y
Kết quả công tác thú y của Cục Thú y năm 2023
95
3
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXXI SỐ 1 - 2024
MOÄT SOÁ ÑAËC ÑIEÅM DÒCH TEÃ CUÛA BEÄNH DO TRUØNG ÑÔN BAØO
H. MELEAGRIDIS GAÂY RA ÔÛ GAØ NUOÂI TAÏI HUYEÄN PHUÙ BÌNH,
TÆNH THAÙI NGUYEÂN VAØ BIEÄN PHAÙP ÑIEÀU TRÒ
Phan Thị Hồng Phúc*, Dương Thị Hồng Duyên, Dương Thị Thu
Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
*Tác giả liên hệ email: phanthihongphuc@tuaf.edu.vn
TÓM TẮT
Mổ khám 549 con gà nghi mắc bệnh đầu đen tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên đã phát hiện 203 gà
nhiễm trùng đơn bào Histomonas meleagridis (H. meleagridis), tỷ lệ gà nhiễm bệnh chiếm 36,98%. Trong
đó, gà nuôi tại xã Tân Kim có tỷ lệ nhiễm bệnh cao nhất (43,59%) và thấp nhất là xã Bàn Đạt (22,45%). Gà ở
các lứa tuổi đều nhiễm trùng đơn bào H. meleagridis, tuy nhiên tỷ lệ nhiễm cao nhất là ở gà > 1 - 3 tháng tuổi
(58,52%). Gà nuôi vào mùa hè có tỷ lệ nhiễm trùng đơn bào H. meleagridis cao hơn gà nuôi ở các mùa khác
trong năm. Gà được nuôi theo phương thức bán chăn thả có tỷ lệ nhiễm H. meleagridis cao nhất (46,05%),
tiếp đến là phương thức chăn thả hoàn toàn (37,28%) và thấp nhất ở gà nuôi theo phương thức nuôi nhốt
(24,85%). Hiệu quả điều trị bệnh đầu đen cho gà của 2 phác đồ đạt từ 90 - 93,33%.
Từ khóa: Gà, Histomonas meleagridis, bệnh đầu đen, tỷ lệ nhiễm.
Some epidemiological characteristics of disease caused by protozoa
(H. meleagridis) in chicken raising in Phu Binh district, Thai Nguyen
province and treatment measure
Phan Thi Hong Phuc, Duong Thi Hong Duyen, Duong Thi Thu
SUMMARY
A total of 549 suspected chickens of having blackhead disease at Phu Binh district, Thai
Nguyen province were dissected for finding Histomonas meleagridis protozoa. As a result there
were 203 chickens infected with the Histomonas meleagridis protozoa, accounting for 36.98%. In
which, the infection rate of chicken raising in Tan Kim commune was highest (43.59%) and the
lowest infection rate was in Ban Dat commune (22.45%). Chickens of all ages were infected with H.
meleagridis protozoa, but the prevalence was highest in chickens at age group from 1 to 3 months old
(58.52%). Chickens raised in summer season suffered with the higher prevalence of H. meleagridis
in comparison with chickens raised in other seasons. The chickens raised by semi-grazing method
had the highest prevalence (46.05%), followed by free grazing method (37.28%) and the lowest
was chickens rearing in captive method (24.85%). The treatment efficacy for blackhead disease in
chickens of the two regimens reached 90 to 93.33%.
Keywords: Chicken, Histomonas meleagridis, blackhead disease, prevalence.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Gia cầm bị bệnh do đơn bào Histomonas
gây ra có triệu chứng ủ rũ, xù lông, giảm ăn,
uống nhiều nước, phân loãng màu vàng lưu
huỳnh. Bệnh có những bệnh tích đặc trưng
như: manh tràng viêm sưng, bề mặt bên trong
lòng manh tràng sần sùi, chất chứa trong lòng
manh tràng bị canxi hóa đóng quánh tạo thành
72
lõi màu trắng; gan sưng to gấp 2 - 3 lần, những
ổ hoại tử có màu trắng ngà hoặc vàng nhạt, lỗ
chỗ như đá hoa cương. Gà bệnh chết rải rác và
thường chết về ban đêm, mức độ chết không ồ
ạt nhưng sự chết kéo dài, tỷ lệ chết lên tới 85
- 95%. Lê Văn Năm (2010) đã phát hiện thấy
Histomonosis trên các đàn gà nuôi tập trung
thả vườn tại một số tỉnh phía Bắc. Đến nay
bệnh đã bùng phát dữ dội, xảy ra ở nhiều địa
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXXI SỐ 1 - 2024
2.2. Nội dung nghiên cứu
phương trên cả nước, gây thiệt hại nặng nề cho
người chăn nuôi. Vì vậy việc hiểu biết bệnh
do Histomonas gây ra để có biện pháp phòng
chống bệnh có hiệu quả là rất cấp thiết.
- Một số đặc điểm dịch tễ bệnh đầu đen trên gà
tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên theo tuổi
gà, mùa trong năm và phương thức nuôi gà.
Phú Bình là một trong những địa phương
nuôi nhiều gà nhất của tỉnh Thái Nguyên, với
chủ yếu là các mô hình nuôi gà thả vườn, gà đồi.
Bệnh đầu đen đã xuất hiện trên tất cả các giống
gà với diễn biến phức tạp và chưa có biện pháp
phòng trị bệnh hiệu quả, gây thiệt hại đáng kể
về kinh tế.
- Xác định phác đồ điều trị bệnh đầu đen cho
gà có hiệu quả.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
Gà được mổ khám theo phương pháp mổ khám
toàn diện của Skrjabin (Nguyễn Thị Kim Lan,
2012), quan sát bằng mắt thường và kính lúp các
nội quan như thận, lách, tim, phổi, đặc biệt là gan
và manh tràng để xác định những biến đổi. Dùng
dao bisturi nạo nhẹ niêm mạc manh tràng, lấy một
ít niêm dịch và chất chứa trong manh tràng cho lên
phiến kính đã có sẵn 1 giọt nước cất; dùng đũa thủy
tinh khuấy đều rồi đậy lamen lên để dàn thành một
lớp mỏng; sau đó soi dưới kính hiển vi (10 x 20
hoặc 10 x 40) để phát hiện đơn bào H. meleagridis
qua sự di chuyển và sự vận động của roi (giai đoạn
xâm lấn) hoặc đơn bào ở thể lưới (giai đoạn di hành
gây bệnh cho các cơ quan phủ tạng khác). Hiệu lực
2 phác đồ được xác định trên 60 gà bị bệnh đầu đen
(xác định qua chẩn đoán lâm sàng) bằng phương
pháp phân lô so sánh, 30 gà/ lô (bảng 1).
Từ thực trạng trên, chúng tôi đã nghiên cứu
về một số đặc điểm dịch tễ bệnh đầu đen do đơn
bào Histomonas meleagridis gây ra ở gà nuôi tại
huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên và biện pháp
điều trị.
II. VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Vật liệu và địa điểm nghiên cứu
549 gà được thu thập tại các địa phương thuộc
huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên theo phương
pháp lấy mẫu ngẫu nhiên, phân tầng từ tháng
7/2022 – 6/2023.
Bảng 1. Phác đồ điều trị bệnh đầu đen trên gà
Phác đồ điều trị
TT
1
Thuốc, thành phần
Phác đồ 1
Phác đồ 2
Monosulfa S
(Sulfamonomethoxin
trimethoprim)
Comix – Plus
(Sulfachloropyridazine
trimethoprim)
Liều lượng, liệu trình
1g/ 30 kg TT, trộn thức ăn, 2
lần/ngày, liên tục 3 – 5 ngày
2
Doxcolis
(Doxycycline HCl, colistin sulfate)
1g/ 20 kg TT, trộn thức ăn, 2
lần/ngày, liên tục 3 – 5 ngày
3
Vidan – T
(Actinospectin, lincomycin)
1ml/5kgTT, Tiêm sâu bắp thịt,
1lần/ngày, liên tục 3 – 5 ngày
4
5
Bio Hepatol Plus (bổ gan, thận)
1ml/2 lít nước Cho uống 1
(Sorbitol, Methionine, lysine, vitamin b1, b2, b6
lần/ ngày, liên tục 5 - 7 ngày
nấm men đậm đặc, acid formic, acid lactic, axit citric, cao diệp hạ châu)
Sun – Paracertamol (hạ sốt)
(Paracetamol, vitamin C, K)
Sau 10 ngày điều trị, quan sát triệu chứng
lâm sàng của gà, nếu thấy gà hết các triệu
chứng của bệnh, ăn uống, vận động bình
1g/5kgTT, Cho uống 2 lần/
ngày, liên tục 5 - 7 ngày
thường thì đánh giá là gà khỏi bệnh và ngược
lại. Số liệu thu thập được xử lý trên phần mềm
Minitab 16.0.
73
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXXI SỐ 1 - 2024
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ
THẢO LUẬN
3.1. Tình hình mắc bệnh đầu đen ở gà nuôi tại
huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
Kết quả bảng 2 cho thấy: trong tổng số 549 được
mổ khám có 203 gà mắc bệnh; chiếm 36,98%. Trong
đó, gà nuôi tại xã Tân Kim có tỷ lệ nhiễm bệnh cao
nhất (43,59%), tiếp đến là xã Tân Hòa (41,67%), xã
Tân Thành (38,52%), xã Tân Khánh (36,54%) và thấp
nhất là xã Bàn Đạt (22,45%).
Nguyên nhân có sự khác nhau về tỷ lệ mắc bệnh
giữa các xã là do nhiều yếu tố như: tình trạng vệ sinh
thú y, địa hình, phương thức chăn nuôi, lứa tuổi,
chế độ nuôi dưỡng, mật độ gà nuôi... Đặc biệt, ở xã
Tân Kim có nhiều hộ nuôi gà với số lượng nhiều,
nuôi lâu năm, nuôi gối đàn, không có thời gian để
trống chuồng, phơi đất để diệt mầm bệnh. Có nhiều
hộ nuôi gà để tận dụng diện tích đất vườn, đồi, do
đó không đầu tư vào chuồng trại, trang thiết bị chăn
nuôi, không chăn nuôi gà theo quy trình kỹ thuật tiên
tiến. Công tác vệ sinh thú y, quy trình sử dụng vắc
xin, tẩy giun, sán cho gà chưa được thực hiện triệt để.
Đồng thời, tại vườn chăn thả môi trường đất có bóng
cây che phủ là nơi khu trú lý tưởng cho trứng giun
kim (môi giới trung gian truyền bệnh) và giun đất (là
ký chủ dự trữ của giun kim). Do nuôi kế đàn nên việc
khử trùng, tiêu độc định kỳ khó thực hiện, tạo cơ hội
cho mầm bệnh lưu cữu trong môi trường chăn nuôi.
Gà chăn thả ngoài vườn bãi chịu ảnh hưởng trực tiếp
của điều kiện thời tiết khí hậu thay đổi, nên sức đề
kháng của gà giảm, đồng thời làm tăng khả năng gà
tiếp xúc với mầm bệnh.
Bảng 2. Tỷ lệ nhiễm đơn bào
H. meleagridis ở gà theo địa phương
Địa phương Số gà mổ
Số gà
(xã)
khám (con) nhiễm (con)
Tỷ lệ
(%)
Tân Khánh
104
38
36,54b
Tân Kim
117
51
43,59a
Tân Hòa
108
45
41,67a
Tân Thành
122
47
38,52b
Bàn Đạt
98
22
22,45c
Tổng
549
203
36,98
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cao hơn so với
kết quả nghiên cứu của Trương Thị Tính (2016) khi
74
tác giả cho biết, tỷ lệ gà nuôi tại huyện Phú Bình năm
2016 bị bệnh đầu đen là 29,43%.
3.2. Tỷ lệ mắc bệnh đầu đen theo lứa tuổi gà
Tuổi của vật nuôi là một trong những yếu tố ảnh
hưởng đến tính cảm thụ đối với bệnh ký sinh trùng,
do vậy, mức độ cảm nhiễm bệnh cũng như khả năng
chống đỡ bệnh tật của gà ở mỗi lứa tuổi khác nhau
(Nguyễn Thị Kim Lan, 2012).
Tỷ lệ nhiễm đơn bào H. meleagridis theo từng
lứa tuổi gà là một chỉ tiêu xác định gà ở lứa tuổi
nào dễ cảm nhiễm bệnh nhất, từ đó có kế hoạch
phòng trị bệnh thích hợp, nhằm nâng cao năng
suất chăn nuôi gà. Kết quả về tỷ lệ nhiễm bệnh đầu
đen do đơn bào H. meleagridis gây ra theo tuổi gà
được trình bày ở bảng dưới đây.
Bảng 3. Tỷ lệ mắc bệnh đầu đen
ở gà theo lứa tuổi
Tuổi gà
(tháng)
Số gà mổ
Số gà
khám (con) nhiễm (con)
Tỷ lệ
(%)
≤1
146
22
15,07d
>1–3
135
79
58,52a
>3-5
138
65
47,10b
>5
130
37
28,46c
Tổng
549
203
36,98
Gà ở các lứa tuổi đều nhiễm đơn bào H.
meleagridis, tuy nhiên gà ở các giai đoạn tuổi khác
nhau có tỷ lệ nhiễm khác nhau. Tỷ lệ nhiễm đơn
bào H. meleagridis cao nhất ở gà > 1 - 3 tháng tuổi
(58,52%); tiếp đến là gà > 3 - 5 tháng tuổi (47,1%); gà
giai đoạn trên 5 tháng tuổi có tỷ lệ nhiễm 28,46%; tỷ
lệ nhiễm đơn bào H. meleagridis thấp nhất ở gà dưới
1 tháng tuổi (15,07%). Theo chúng tôi, nguyên nhân
có thể là do giai đoạn dưới 1 tháng tuổi gà còn nhỏ,
cường độ hoạt động và nhu cầu thức ăn ít, gà chưa đi
xa để kiếm ăn mà chủ yếu được nuôi trong chuồng
úm, được nuôi dưỡng và chăm sóc cẩn thận, vệ sinh
chuồng trại đảm bảo nên khả năng tiếp xúc với mầm
bệnh cũng như tiếp xúc với trứng giun kim và giun
đất ít. Vì vậy, gà ở giai đoạn này nhiễm bệnh đầu đen
với tỷ lệ thấp. Giai đoạn > 1 - 3 tháng tuổi gà từ môi
trường nuôi úm được thả ra vườn đồi, gà bắt đầu tiếp
xúc với môi trường chăn nuôi. Do thay đổi môi trường
sống, đồng thời nhu cầu thức ăn và cường độ hoạt
động tăng, gà tăng cường bới đất tìm kiếm sâu bọ, côn
trùng nên thường xuyên tiếp xúc với các vật chủ chứa
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXXI SỐ 1 - 2024
mang mầm bệnh. Đó là những nguyên nhân dẫn đến
tỷ lệ nhiễm H. meleagridis cao nhất ở lứa tuổi này. Ở
giai đoạn > 3 - 5 và > 5 tháng tuổi gà phát triển cả về
thể chất và hệ thống miễn dịch, cơ thể gà có sức đề
kháng nhất định với các loại mầm bệnh, trong đó có
đơn bào. Do vậy, tỷ lệ nhiễm đơn bào H. meleagridis
thấp hơn so với gà 1 - 3 tháng tuổi.
Theo Trương Thị Tính và cs. (2015), gà ở các lứa
tuổi đều mắc bệnh đầu đen, tỷ lệ mắc bệnh khác nhau
theo lứa tuổi. Tỷ lệ mắc bệnh cao nhất ở gà > 1 – 3
tháng tuổi (32,53 %); tiếp đến là gà > 3 - 5 tháng tuổi
(20,87%), gà giai đoạn > 5 tháng tuổi là 11,47%; tỷ lệ
mắc bệnh thấp nhất ở gà dưới 1 tháng tuổi (6,79%).
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương đồng với
nghiên cứu của tác giả.
3.3. Tỷ lệ gà mắc bệnh đầu đen theo mùa trong
năm
Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2012), ở những
vùng có mùa đông, mùa hè rõ rệt, ký sinh trùng
và bệnh ký sinh trùng phát triển theo mùa. Trong
đó, nhiệt độ và ẩm độ không khí ở các năm có ảnh
hưởng rất lớn đến chu kỳ phát dục của giun, sán. Để
xác định mùa có ảnh hưởng như thế nào đến tỷ lệ
mắc bệnh đầu đen ở gà, chúng tôi đã mổ khám 549
gà tại huyện Phú Bình, kết quả mổ khám như sau:
Bảng 4. Tỷ lệ mắc bệnh đầu đen
ở gà theo mùa trong năm
Mùa
Số gà mổ
khám (con)
Số gà
nhiễm (con)
Tỷ lệ
(%)
Xuân
133
55
41,35a
Hè
148
73
49,32a
Thu
129
42
32,56b
Đông
139
33
23,74c
Tổng
549
203
36,98
Kết quả ở bảng 4 cho thấy: Gà nuôi vào mùa hè có
tỷ lệ nhiễm đơn bào H. meleagridis cao nhất (49,32%),
tiếp đến là mùa xuân (41,35%), mùa thu (32,56%) và
thấp nhất là mùa đông (23,74%). Tỷ lệ gà nhiễm đơn
bào H. meleagridis khác nhau ở các mùa trong năm
có thể là do: mùa hè (từ tháng 5 đến tháng 7), là thời
gian có gió mùa Tây Nam nên thời tiết nóng, ẩm, mưa
nhiều, là điều kiện thuận lợi để trứng giun kim gà và
giun đất tồn tại, phát triển ở ngoại cảnh. Mặt khác,
những ngày trời mưa, đất ướt nên giun đất thường
ngoi lên mặt đất. Gà ăn phải giun đất mang trứng giun
kim đã nhiễm H. meleagridis sẽ bị bệnh. Theo Trương
Thị Tính và cs. (2016), tỷ lệ nhiễm bệnh đầu đen có
liên quan mật thiết đến tỷ lệ gà nhiễm giun kim, ở địa
phương nào có tỷ lệ gà nhiễm giun kim cao thì mắc
bệnh đầu đen cũng cao và ngược lại.
Lê Văn Năm (2011) cho biết: ở miền Bắc Việt
Nam, bệnh do đơn bào H. meleagridis bùng phát
mạnh vào các tháng nóng ẩm: cuối xuân, hè và đầu
thu. Trong khi đó ở gà lớn tuổi (gà già, gà đẻ) bệnh
thường xảy ra vào cuối Thu sang Đông.
Nguyễn Văn Thọ (2017), khi nghiên cứu về bệnh
do đơn bào H. meleagridis trên gà thả vườn nuôi tại
một số tỉnh phía bắc Việt Nam cũng cho biết: tỷ lệ gà
mắc bệnh khác nhau ở các mùa, cao nhất là ở mùa
xuân và thấp nhất là ở mùa đông. Kết quả nghiên cứu
của chúng tôi trên gà tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái
Nguyên cũng có kết quả tương tự.
3.4. Tỷ lệ gà nhiễm bệnh đầu đen theo phương
thức chăn nuôi
Bảng 5. Tỷ lệ nhiễm bệnh đầu đen
ở gà theo phương thức chăn nuôi
Phương thức
chăn nuôi
Số gà mổ
khám (con)
Số gà nhiễm
(con)
Tỷ lệ
(%)
Chăn thả
169
63
37,28b
Bán chăn thả
215
99
46,05a
Nuôi nhốt
165
41
24,85c
Tổng
549
203
36,98
Bảng 5 cho thấy: gà được nuôi theo phương thức
bán chăn thả có tỷ lệ nhiễm bệnh đầu đen cao nhất
(46,05%), sau đó đến phương thức chăn thả hoàn
toàn (37,28%) và thấp nhất ở gà nuôi theo phương
thức nuôi nhốt (24,85%). Theo chúng tôi, nguyên
nhân là do phương thức nuôi chăn thả hoàn toàn và
bán chăn thả là phương thức chăn nuôi mang tính
tận dụng, tình trạng vệ sinh kém, gà được chăn thả ở
vườn, đồi thường xuyên tiếp xúc với phân, đất, có thể
chứa trứng giun kim mang đơn bào H. meleagridis
và nhiều mầm bệnh khác. Vì vậy, gà nuôi ở 2 phương
thức này có tỷ lệ nhiễm H. meleagridis cao. Ngược
lại, gà nuôi theo phương thức nuôi nhốt thường được
nuôi với quy mô đàn khá lớn, từ vài trăm đến vài
nghìn con/ hộ. Các hộ nuôi theo phương thức này
thường quan tâm tới công tác vệ sinh thú y và phòng
75
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXXI SỐ 1 - 2024
bệnh cho đàn gà, do vậy gà nuôi nhốt nhiễm đơn bào
H. meleagridis thấp hơn.
bào H. meleagridis cao nhất ở gà > 1 - 3 tháng tuổi
(58,52%), thấp nhất ở gà dưới 1 tháng tuổi (15,07%).
Đối với phương thức chăn thả hoàn toàn, số
lượng gà ít, lại được nuôi trên diện tích khá rộng,
khả năng gà tiếp xúc với mầm bệnh giảm đi. Đó là
nguyên nhân dẫn đến gà nuôi thả vườn hoàn toàn
có tỷ lệ nhiễm đơn bào H. meleagridis thấp hơn so
với gà nuôi bán chăn thả.
Gà nuôi vào mùa hè có tỷ lệ nhiễm đơn bào H.
meleagridis cao nhất (49,32%), tiếp đến là mùa
xuân (41,35%), mùa thu (32,56%) và thấp nhất là
mùa đông (23,74%).
3.5. Đánh giá hiệu lực của thuốc điều trị bệnh
đầu đen trên gà
Bảng 6. Hiệu lực của phác đồ
điều trị bệnh đầu đen trên gà
Phác đồ
Số gà điều trị Số gà khỏi
(con)
(con)
Tỷ lệ
(%)
1
30
27
90,00
2
30
28
93,33
Tổng
60
55
91,67
Với phác đồ 1: sử dụng Monosulfa S trộn thức ăn
kết hợp với Doxcolis, Vidan – T và bổ sung giải độc
gan, thận, hạ sốt để điều trị cho 30 gà mắc bệnh đầu
đen. Kết quả, sau 10 ngày theo dõi có 27 gà khỏi bệnh
(gà khỏe lại, ăn uống bình thường và không thấy xuất
hiện triệu chứng của bệnh). Hiệu quả điều trị đạt 90%.
Phác đồ 2: sử dụng Comix – Plus trộn thức ăn kết
hợp với Doxcolis, Vidan – T và bổ sung giải độc gan,
thận, hạ sốt để điều trị cho 30 gà mắc bệnh đầu đen.
Kết quả, sau 10 ngày theo dõi có 28 gà khỏi bệnh (gà
khỏe lại, ăn uống bình thường và không thấy xuất hiện
triệu chứng của bệnh). Hiệu quả điều trị đạt 93,33%.
Như vậy, kết quả điều trị bệnh đầu đen bước đầu
cho thấy phác đồ 2 cho hiệu quả điều trị cao hơn
phác đồ 1 và số gà hết triệu chứng nhiều hơn, tuy
nhiên sự khác nhau này chưa có ý nghĩa thống kê.
IV. KẾT LUẬN
Gà được nuôi theo phương thức bán chăn thả
có tỷ lệ nhiễm đơn bào H. meleagridis cao nhất
(46,05%), sau đó đến phương thức chăn thả hoàn
toàn (37,28%) và thấp nhất ở gà nuôi theo phương
thức nuôi nhốt (24,85%).
Hiệu lực điều trị bệnh đầu đen trên gà của 2
phác đồ đạt từ 90 – 93,33%.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Thị Kim Lan, 2012. Ký sinh trùng và bệnh
ký sinh trùng thú y, NXB Nông Nghiệp - Hà Nội,
tr,296 – 301.
2. Lê Văn Năm, 2010. Bệnh viêm Gan
- Ruột truyền nhiễm. Tạp chí khoa
học kỹ thuật thú y, số 3, tập II.
3. Lê Văn Năm, 2011. Bệnh đầu đen ở gà và gà tây. Tạp
chí Khoa học Công nghệ chăn nuôi, tr. 88 - 91.
4. Trương Thị Tính, Nguyễn Thị Kim Lan, Lê Văn Năm,
Đỗ Thị Vân Giang, 2015. Tình hình mắc bệnh đầu đen
ở gà tại tỉnh Thái Nguyên, Bắc Giang. Tạp chí khoa
học Kỹ thuật Thú y, tập XXII, số 3, tr. 53 - 59.
5. Trương Thị Tính, 2016. Nghiên cứu bệnh đầu đen
do đơn bào Histomonas meleagridis gây ra ở gà tại
tỉnh Thái Nguyên, Bắc Giang và biện pháp phòng trị
bệnh. Luận án tiến sĩ thú y - Đại học Thái Nguyên.
6. Trương Thị Tính, Nguyễn Thị Kim Lan, Lê Văn Năm,
Đỗ Thị Vân Giang, Nguyễn Thị Bích Ngà, 2016.
Tương quan giữa tỷ lệ nhiễm giun kim Heterakis
gallinarum với tỷ lệ mắc bệnh đầu đen ở gà. Tạp chí
khoa học Kỹ thuật Thú y, tập XXII, số 2, tr. 64 – 70.
Mổ khám 549 gà nghi mắc bệnh được mổ
khám, có 203 gà nhiễm bệnh chiếm 36,98%.
Trong đó, xã Tân Kim có tỷ lệ nhiễm bệnh cao
nhất (43,59%), tiếp đến là xã Tân Hòa (41,67%),
xã Tân Thành (38,52%), xã Tân Khánh (36,54%)
và thấp nhất là xã Bàn Đạt (22,45%).
7. Nguyễn Văn Thọ, Nguyễn Thị Lan, Đào Lê Anh,
Gà ở các lứa tuổi đều nhiễm đơn bào H.
meleagridis, tuy nhiên gà ở các giai đoạn tuổi khác
nhau có tỷ lệ nhiễm khác nhau. Tỷ lệ nhiễm đơn
Ngày nhận: 31-8-2023
Ngày phản biện: 5-9-2023
Ngày đăng: 1-1-2024
76
Nguyễn Thị Giang, Nguyễn Thị Hồng Chiên, 2017.
Một số đặc điểm dịch tễ của bệnh do Histomonas
meleagridis trên gà nuôi thả vườn tại một số tỉnh
phía Bắc Việt Nam. Tạp chí khoa học Kỹ thuật Thú
y, tập XXIV, số 3, tr. 50 – 57.
JOURNAL OF VETERINARY SCIENCE AND TECHNOLOGY
ISSN 1859 - 4751
HAPPY NEW YEAR
GIÁP THÌN
Taäp XXXI Soá 1 - 2024
HOÄI THUÙ Y VIEÄT NAM
VIETNAM VETERINARY ASSOCIATION
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXXI SỐ 1 - 2024
MUÏC LUÏC
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
• NGUYỄN TRUNG TIẾN, HOÀNG THỊ THU HƯƠNG, LA THỊ HƯƠNG, VŨ THỊ MỸ HẠNH,
PHẠM QUANG TRUNG, TRẦN TIẾN QUÂN, TẠ HOÀNG LONG, ĐOÀN THỊ THANH
HƯƠNG, NGUYỄN THỊ THU HIỀN, VŨ NGỌC HIỆU, NGÔ THỊ THU HƯƠNG
Định danh chủng virus gây bệnh viêm phế quản truyền nhiễm ở gà (infectious bronchitis virus)
bằng phương pháp sinh học phân tử
• ĐẶNG THỊ MAI LAN, PHAN THỊ LAN HƯƠNG, CHU LÂM HUY
Nghiên cứu một số triệu chứng lâm sàng và đặc điểm bệnh lý của gà mắc bệnh viêm phế quản
truyền nhiễm (IB)
• NGUYỄN THỊ KIM OANH, NGUYỄN THỊ HUYỀN, VŨ ĐĂNG THẮNG, NGUYỄN ĐĂNG
HỒNG NGỌC, NGUYỄN THANH LOAN, ÂU XUÂN KHOA, VŨ THỊ LAN HƯƠNG, NGUYỄN
THỊ THÚY MẬN, NGÔ VĂN BẮC, TRƯƠNG ĐÌNH HOÀI
Nghiên cứu về sự lưu hành của virus DIV1 gây bệnh trên tôm nuôi tại Việt Nam
• ĐỖ TIẾN DUY, ĐẶNG HOÀNG KIM, NGÔ THỊ NGỌC TRÂM, ĐINH XUÂN PHÁT, NGUYỄN
THỊ THU NĂM, NGUYỄN THỊ PHƯƠNG TRANG, NGUYỄN MINH NAM, NGUYỄN TẤT TOÀN
Sự đồng nhiễm và đặc trưng kiểu gen của porcine circovirus type 2 và 3 trên heo có dấu hiệu rối
loạn sinh sản và hô hấp
• CHU THỊ THANH HƯƠNG, ĐINH THỊ DIỆP ANH, TRƯƠNG LAN OANH, TRƯƠNG HÀ THÁI
Một số đặc điểm bệnh tụ huyết trùng trên vịt nuôi tại các trang trại thuộc huyện Tam Dương, tỉnh
Vĩnh Phúc
• CAM THỊ THU HÀ, HOÀNG MINH ĐỨC, PHẠM HỒNG NGÂN
Nghiên cứu khả năng kháng kháng sinh của vi khuẩn Escherichia coli phân lập từ thịt gà và thịt lợn
tại huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội
• HOÀNG MINH ĐỨC, CAM THỊ THU HÀ, HOÀNG MINH SƠN, TRẦN THỊ KHÁNH HOÀ
Nghiên cứu tính kháng kháng sinh của vi khuẩn Salmonella phân lập từ thịt gà và thịt lợn bán tại
chợ trên địa bàn quận Long Biên, thành phố Hà Nội
• NGUYỄN XUÂN HOÀ, PHẠM THÁI BÌNH, PHAN THỊ HẰNG, HỒ KHẢ HỒNG ĐỨC,
NGUYỄN THỊ HOA, LÊ MINH ĐỨC, LÊ THỊ HOÀI CHÚC, PHAN VŨ HẢI
Phân lập và tuyển chọn chủng vi khuẩn Bacillus subtilis tiềm năng sử dụng sản xuất chế phẩm sinh học
• PHAN THỊ HỒNG PHÚC, DƯƠNG THỊ HỒNG DUYÊN, DƯƠNG THỊ THU
Một số đặc điểm dịch tễ của bệnh do trùng đơn bào H. meleagridis gây ra ở gà nuôi tại huyện Phú
Bình, tỉnh Thái Nguyên và biện pháp điều trị
• ĐÀO THỊ HÀ THANH, DƯƠNG NHƯ NGỌC, NGUYỄN HOÀI NAM, NGUYỄN ĐỨC TRƯỜNG,
NGUYỄN THỊ LAN ANH, ĐỖ THỊ THU THUÝ, ĐOÀN HỮU HOÀN, NGUYỄN THỊ BÍCH THUỶ
Nghiên cứu thiết lập nested-PCR ứng dụng trong chẩn đoán bệnh tiên mao trùng gây bởi loài
Trypanosoma evansi trên ngựa
• VÕ THỊ HUỲNH NHƯ, NGUYỄN THÀNH ĐỨC NGHĨA, NGUYỄN VĂN VUI
Ảnh hưởng của việc bổ sung tinh dầu lá húng quế (Ocimum basilicum) vào môi trường pha loãng
lên chất lượng tinh trùng gà trong bảo quản lạnh
1
9
20
29
37
46
55
64
72
77
83
NÂNG CAO - THAM KHẢO
• TỔ CHỨC Y TẾ THẾ GIỚI
An toàn thực phẩm và sức khỏe cộng đồng
92
TRAO ĐỔI KHKT - HOẠT ĐỘNG NGÀNH
• CỤC THÚ Y
Kết quả công tác thú y của Cục Thú y năm 2023
95
3
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXXI SỐ 1 - 2024
MOÄT SOÁ ÑAËC ÑIEÅM DÒCH TEÃ CUÛA BEÄNH DO TRUØNG ÑÔN BAØO
H. MELEAGRIDIS GAÂY RA ÔÛ GAØ NUOÂI TAÏI HUYEÄN PHUÙ BÌNH,
TÆNH THAÙI NGUYEÂN VAØ BIEÄN PHAÙP ÑIEÀU TRÒ
Phan Thị Hồng Phúc*, Dương Thị Hồng Duyên, Dương Thị Thu
Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
*Tác giả liên hệ email: phanthihongphuc@tuaf.edu.vn
TÓM TẮT
Mổ khám 549 con gà nghi mắc bệnh đầu đen tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên đã phát hiện 203 gà
nhiễm trùng đơn bào Histomonas meleagridis (H. meleagridis), tỷ lệ gà nhiễm bệnh chiếm 36,98%. Trong
đó, gà nuôi tại xã Tân Kim có tỷ lệ nhiễm bệnh cao nhất (43,59%) và thấp nhất là xã Bàn Đạt (22,45%). Gà ở
các lứa tuổi đều nhiễm trùng đơn bào H. meleagridis, tuy nhiên tỷ lệ nhiễm cao nhất là ở gà > 1 - 3 tháng tuổi
(58,52%). Gà nuôi vào mùa hè có tỷ lệ nhiễm trùng đơn bào H. meleagridis cao hơn gà nuôi ở các mùa khác
trong năm. Gà được nuôi theo phương thức bán chăn thả có tỷ lệ nhiễm H. meleagridis cao nhất (46,05%),
tiếp đến là phương thức chăn thả hoàn toàn (37,28%) và thấp nhất ở gà nuôi theo phương thức nuôi nhốt
(24,85%). Hiệu quả điều trị bệnh đầu đen cho gà của 2 phác đồ đạt từ 90 - 93,33%.
Từ khóa: Gà, Histomonas meleagridis, bệnh đầu đen, tỷ lệ nhiễm.
Some epidemiological characteristics of disease caused by protozoa
(H. meleagridis) in chicken raising in Phu Binh district, Thai Nguyen
province and treatment measure
Phan Thi Hong Phuc, Duong Thi Hong Duyen, Duong Thi Thu
SUMMARY
A total of 549 suspected chickens of having blackhead disease at Phu Binh district, Thai
Nguyen province were dissected for finding Histomonas meleagridis protozoa. As a result there
were 203 chickens infected with the Histomonas meleagridis protozoa, accounting for 36.98%. In
which, the infection rate of chicken raising in Tan Kim commune was highest (43.59%) and the
lowest infection rate was in Ban Dat commune (22.45%). Chickens of all ages were infected with H.
meleagridis protozoa, but the prevalence was highest in chickens at age group from 1 to 3 months old
(58.52%). Chickens raised in summer season suffered with the higher prevalence of H. meleagridis
in comparison with chickens raised in other seasons. The chickens raised by semi-grazing method
had the highest prevalence (46.05%), followed by free grazing method (37.28%) and the lowest
was chickens rearing in captive method (24.85%). The treatment efficacy for blackhead disease in
chickens of the two regimens reached 90 to 93.33%.
Keywords: Chicken, Histomonas meleagridis, blackhead disease, prevalence.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Gia cầm bị bệnh do đơn bào Histomonas
gây ra có triệu chứng ủ rũ, xù lông, giảm ăn,
uống nhiều nước, phân loãng màu vàng lưu
huỳnh. Bệnh có những bệnh tích đặc trưng
như: manh tràng viêm sưng, bề mặt bên trong
lòng manh tràng sần sùi, chất chứa trong lòng
manh tràng bị canxi hóa đóng quánh tạo thành
72
lõi màu trắng; gan sưng to gấp 2 - 3 lần, những
ổ hoại tử có màu trắng ngà hoặc vàng nhạt, lỗ
chỗ như đá hoa cương. Gà bệnh chết rải rác và
thường chết về ban đêm, mức độ chết không ồ
ạt nhưng sự chết kéo dài, tỷ lệ chết lên tới 85
- 95%. Lê Văn Năm (2010) đã phát hiện thấy
Histomonosis trên các đàn gà nuôi tập trung
thả vườn tại một số tỉnh phía Bắc. Đến nay
bệnh đã bùng phát dữ dội, xảy ra ở nhiều địa
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXXI SỐ 1 - 2024
2.2. Nội dung nghiên cứu
phương trên cả nước, gây thiệt hại nặng nề cho
người chăn nuôi. Vì vậy việc hiểu biết bệnh
do Histomonas gây ra để có biện pháp phòng
chống bệnh có hiệu quả là rất cấp thiết.
- Một số đặc điểm dịch tễ bệnh đầu đen trên gà
tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên theo tuổi
gà, mùa trong năm và phương thức nuôi gà.
Phú Bình là một trong những địa phương
nuôi nhiều gà nhất của tỉnh Thái Nguyên, với
chủ yếu là các mô hình nuôi gà thả vườn, gà đồi.
Bệnh đầu đen đã xuất hiện trên tất cả các giống
gà với diễn biến phức tạp và chưa có biện pháp
phòng trị bệnh hiệu quả, gây thiệt hại đáng kể
về kinh tế.
- Xác định phác đồ điều trị bệnh đầu đen cho
gà có hiệu quả.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
Gà được mổ khám theo phương pháp mổ khám
toàn diện của Skrjabin (Nguyễn Thị Kim Lan,
2012), quan sát bằng mắt thường và kính lúp các
nội quan như thận, lách, tim, phổi, đặc biệt là gan
và manh tràng để xác định những biến đổi. Dùng
dao bisturi nạo nhẹ niêm mạc manh tràng, lấy một
ít niêm dịch và chất chứa trong manh tràng cho lên
phiến kính đã có sẵn 1 giọt nước cất; dùng đũa thủy
tinh khuấy đều rồi đậy lamen lên để dàn thành một
lớp mỏng; sau đó soi dưới kính hiển vi (10 x 20
hoặc 10 x 40) để phát hiện đơn bào H. meleagridis
qua sự di chuyển và sự vận động của roi (giai đoạn
xâm lấn) hoặc đơn bào ở thể lưới (giai đoạn di hành
gây bệnh cho các cơ quan phủ tạng khác). Hiệu lực
2 phác đồ được xác định trên 60 gà bị bệnh đầu đen
(xác định qua chẩn đoán lâm sàng) bằng phương
pháp phân lô so sánh, 30 gà/ lô (bảng 1).
Từ thực trạng trên, chúng tôi đã nghiên cứu
về một số đặc điểm dịch tễ bệnh đầu đen do đơn
bào Histomonas meleagridis gây ra ở gà nuôi tại
huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên và biện pháp
điều trị.
II. VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Vật liệu và địa điểm nghiên cứu
549 gà được thu thập tại các địa phương thuộc
huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên theo phương
pháp lấy mẫu ngẫu nhiên, phân tầng từ tháng
7/2022 – 6/2023.
Bảng 1. Phác đồ điều trị bệnh đầu đen trên gà
Phác đồ điều trị
TT
1
Thuốc, thành phần
Phác đồ 1
Phác đồ 2
Monosulfa S
(Sulfamonomethoxin
trimethoprim)
Comix – Plus
(Sulfachloropyridazine
trimethoprim)
Liều lượng, liệu trình
1g/ 30 kg TT, trộn thức ăn, 2
lần/ngày, liên tục 3 – 5 ngày
2
Doxcolis
(Doxycycline HCl, colistin sulfate)
1g/ 20 kg TT, trộn thức ăn, 2
lần/ngày, liên tục 3 – 5 ngày
3
Vidan – T
(Actinospectin, lincomycin)
1ml/5kgTT, Tiêm sâu bắp thịt,
1lần/ngày, liên tục 3 – 5 ngày
4
5
Bio Hepatol Plus (bổ gan, thận)
1ml/2 lít nước Cho uống 1
(Sorbitol, Methionine, lysine, vitamin b1, b2, b6
lần/ ngày, liên tục 5 - 7 ngày
nấm men đậm đặc, acid formic, acid lactic, axit citric, cao diệp hạ châu)
Sun – Paracertamol (hạ sốt)
(Paracetamol, vitamin C, K)
Sau 10 ngày điều trị, quan sát triệu chứng
lâm sàng của gà, nếu thấy gà hết các triệu
chứng của bệnh, ăn uống, vận động bình
1g/5kgTT, Cho uống 2 lần/
ngày, liên tục 5 - 7 ngày
thường thì đánh giá là gà khỏi bệnh và ngược
lại. Số liệu thu thập được xử lý trên phần mềm
Minitab 16.0.
73
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXXI SỐ 1 - 2024
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ
THẢO LUẬN
3.1. Tình hình mắc bệnh đầu đen ở gà nuôi tại
huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
Kết quả bảng 2 cho thấy: trong tổng số 549 được
mổ khám có 203 gà mắc bệnh; chiếm 36,98%. Trong
đó, gà nuôi tại xã Tân Kim có tỷ lệ nhiễm bệnh cao
nhất (43,59%), tiếp đến là xã Tân Hòa (41,67%), xã
Tân Thành (38,52%), xã Tân Khánh (36,54%) và thấp
nhất là xã Bàn Đạt (22,45%).
Nguyên nhân có sự khác nhau về tỷ lệ mắc bệnh
giữa các xã là do nhiều yếu tố như: tình trạng vệ sinh
thú y, địa hình, phương thức chăn nuôi, lứa tuổi,
chế độ nuôi dưỡng, mật độ gà nuôi... Đặc biệt, ở xã
Tân Kim có nhiều hộ nuôi gà với số lượng nhiều,
nuôi lâu năm, nuôi gối đàn, không có thời gian để
trống chuồng, phơi đất để diệt mầm bệnh. Có nhiều
hộ nuôi gà để tận dụng diện tích đất vườn, đồi, do
đó không đầu tư vào chuồng trại, trang thiết bị chăn
nuôi, không chăn nuôi gà theo quy trình kỹ thuật tiên
tiến. Công tác vệ sinh thú y, quy trình sử dụng vắc
xin, tẩy giun, sán cho gà chưa được thực hiện triệt để.
Đồng thời, tại vườn chăn thả môi trường đất có bóng
cây che phủ là nơi khu trú lý tưởng cho trứng giun
kim (môi giới trung gian truyền bệnh) và giun đất (là
ký chủ dự trữ của giun kim). Do nuôi kế đàn nên việc
khử trùng, tiêu độc định kỳ khó thực hiện, tạo cơ hội
cho mầm bệnh lưu cữu trong môi trường chăn nuôi.
Gà chăn thả ngoài vườn bãi chịu ảnh hưởng trực tiếp
của điều kiện thời tiết khí hậu thay đổi, nên sức đề
kháng của gà giảm, đồng thời làm tăng khả năng gà
tiếp xúc với mầm bệnh.
Bảng 2. Tỷ lệ nhiễm đơn bào
H. meleagridis ở gà theo địa phương
Địa phương Số gà mổ
Số gà
(xã)
khám (con) nhiễm (con)
Tỷ lệ
(%)
Tân Khánh
104
38
36,54b
Tân Kim
117
51
43,59a
Tân Hòa
108
45
41,67a
Tân Thành
122
47
38,52b
Bàn Đạt
98
22
22,45c
Tổng
549
203
36,98
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cao hơn so với
kết quả nghiên cứu của Trương Thị Tính (2016) khi
74
tác giả cho biết, tỷ lệ gà nuôi tại huyện Phú Bình năm
2016 bị bệnh đầu đen là 29,43%.
3.2. Tỷ lệ mắc bệnh đầu đen theo lứa tuổi gà
Tuổi của vật nuôi là một trong những yếu tố ảnh
hưởng đến tính cảm thụ đối với bệnh ký sinh trùng,
do vậy, mức độ cảm nhiễm bệnh cũng như khả năng
chống đỡ bệnh tật của gà ở mỗi lứa tuổi khác nhau
(Nguyễn Thị Kim Lan, 2012).
Tỷ lệ nhiễm đơn bào H. meleagridis theo từng
lứa tuổi gà là một chỉ tiêu xác định gà ở lứa tuổi
nào dễ cảm nhiễm bệnh nhất, từ đó có kế hoạch
phòng trị bệnh thích hợp, nhằm nâng cao năng
suất chăn nuôi gà. Kết quả về tỷ lệ nhiễm bệnh đầu
đen do đơn bào H. meleagridis gây ra theo tuổi gà
được trình bày ở bảng dưới đây.
Bảng 3. Tỷ lệ mắc bệnh đầu đen
ở gà theo lứa tuổi
Tuổi gà
(tháng)
Số gà mổ
Số gà
khám (con) nhiễm (con)
Tỷ lệ
(%)
≤1
146
22
15,07d
>1–3
135
79
58,52a
>3-5
138
65
47,10b
>5
130
37
28,46c
Tổng
549
203
36,98
Gà ở các lứa tuổi đều nhiễm đơn bào H.
meleagridis, tuy nhiên gà ở các giai đoạn tuổi khác
nhau có tỷ lệ nhiễm khác nhau. Tỷ lệ nhiễm đơn
bào H. meleagridis cao nhất ở gà > 1 - 3 tháng tuổi
(58,52%); tiếp đến là gà > 3 - 5 tháng tuổi (47,1%); gà
giai đoạn trên 5 tháng tuổi có tỷ lệ nhiễm 28,46%; tỷ
lệ nhiễm đơn bào H. meleagridis thấp nhất ở gà dưới
1 tháng tuổi (15,07%). Theo chúng tôi, nguyên nhân
có thể là do giai đoạn dưới 1 tháng tuổi gà còn nhỏ,
cường độ hoạt động và nhu cầu thức ăn ít, gà chưa đi
xa để kiếm ăn mà chủ yếu được nuôi trong chuồng
úm, được nuôi dưỡng và chăm sóc cẩn thận, vệ sinh
chuồng trại đảm bảo nên khả năng tiếp xúc với mầm
bệnh cũng như tiếp xúc với trứng giun kim và giun
đất ít. Vì vậy, gà ở giai đoạn này nhiễm bệnh đầu đen
với tỷ lệ thấp. Giai đoạn > 1 - 3 tháng tuổi gà từ môi
trường nuôi úm được thả ra vườn đồi, gà bắt đầu tiếp
xúc với môi trường chăn nuôi. Do thay đổi môi trường
sống, đồng thời nhu cầu thức ăn và cường độ hoạt
động tăng, gà tăng cường bới đất tìm kiếm sâu bọ, côn
trùng nên thường xuyên tiếp xúc với các vật chủ chứa
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXXI SỐ 1 - 2024
mang mầm bệnh. Đó là những nguyên nhân dẫn đến
tỷ lệ nhiễm H. meleagridis cao nhất ở lứa tuổi này. Ở
giai đoạn > 3 - 5 và > 5 tháng tuổi gà phát triển cả về
thể chất và hệ thống miễn dịch, cơ thể gà có sức đề
kháng nhất định với các loại mầm bệnh, trong đó có
đơn bào. Do vậy, tỷ lệ nhiễm đơn bào H. meleagridis
thấp hơn so với gà 1 - 3 tháng tuổi.
Theo Trương Thị Tính và cs. (2015), gà ở các lứa
tuổi đều mắc bệnh đầu đen, tỷ lệ mắc bệnh khác nhau
theo lứa tuổi. Tỷ lệ mắc bệnh cao nhất ở gà > 1 – 3
tháng tuổi (32,53 %); tiếp đến là gà > 3 - 5 tháng tuổi
(20,87%), gà giai đoạn > 5 tháng tuổi là 11,47%; tỷ lệ
mắc bệnh thấp nhất ở gà dưới 1 tháng tuổi (6,79%).
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương đồng với
nghiên cứu của tác giả.
3.3. Tỷ lệ gà mắc bệnh đầu đen theo mùa trong
năm
Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2012), ở những
vùng có mùa đông, mùa hè rõ rệt, ký sinh trùng
và bệnh ký sinh trùng phát triển theo mùa. Trong
đó, nhiệt độ và ẩm độ không khí ở các năm có ảnh
hưởng rất lớn đến chu kỳ phát dục của giun, sán. Để
xác định mùa có ảnh hưởng như thế nào đến tỷ lệ
mắc bệnh đầu đen ở gà, chúng tôi đã mổ khám 549
gà tại huyện Phú Bình, kết quả mổ khám như sau:
Bảng 4. Tỷ lệ mắc bệnh đầu đen
ở gà theo mùa trong năm
Mùa
Số gà mổ
khám (con)
Số gà
nhiễm (con)
Tỷ lệ
(%)
Xuân
133
55
41,35a
Hè
148
73
49,32a
Thu
129
42
32,56b
Đông
139
33
23,74c
Tổng
549
203
36,98
Kết quả ở bảng 4 cho thấy: Gà nuôi vào mùa hè có
tỷ lệ nhiễm đơn bào H. meleagridis cao nhất (49,32%),
tiếp đến là mùa xuân (41,35%), mùa thu (32,56%) và
thấp nhất là mùa đông (23,74%). Tỷ lệ gà nhiễm đơn
bào H. meleagridis khác nhau ở các mùa trong năm
có thể là do: mùa hè (từ tháng 5 đến tháng 7), là thời
gian có gió mùa Tây Nam nên thời tiết nóng, ẩm, mưa
nhiều, là điều kiện thuận lợi để trứng giun kim gà và
giun đất tồn tại, phát triển ở ngoại cảnh. Mặt khác,
những ngày trời mưa, đất ướt nên giun đất thường
ngoi lên mặt đất. Gà ăn phải giun đất mang trứng giun
kim đã nhiễm H. meleagridis sẽ bị bệnh. Theo Trương
Thị Tính và cs. (2016), tỷ lệ nhiễm bệnh đầu đen có
liên quan mật thiết đến tỷ lệ gà nhiễm giun kim, ở địa
phương nào có tỷ lệ gà nhiễm giun kim cao thì mắc
bệnh đầu đen cũng cao và ngược lại.
Lê Văn Năm (2011) cho biết: ở miền Bắc Việt
Nam, bệnh do đơn bào H. meleagridis bùng phát
mạnh vào các tháng nóng ẩm: cuối xuân, hè và đầu
thu. Trong khi đó ở gà lớn tuổi (gà già, gà đẻ) bệnh
thường xảy ra vào cuối Thu sang Đông.
Nguyễn Văn Thọ (2017), khi nghiên cứu về bệnh
do đơn bào H. meleagridis trên gà thả vườn nuôi tại
một số tỉnh phía bắc Việt Nam cũng cho biết: tỷ lệ gà
mắc bệnh khác nhau ở các mùa, cao nhất là ở mùa
xuân và thấp nhất là ở mùa đông. Kết quả nghiên cứu
của chúng tôi trên gà tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái
Nguyên cũng có kết quả tương tự.
3.4. Tỷ lệ gà nhiễm bệnh đầu đen theo phương
thức chăn nuôi
Bảng 5. Tỷ lệ nhiễm bệnh đầu đen
ở gà theo phương thức chăn nuôi
Phương thức
chăn nuôi
Số gà mổ
khám (con)
Số gà nhiễm
(con)
Tỷ lệ
(%)
Chăn thả
169
63
37,28b
Bán chăn thả
215
99
46,05a
Nuôi nhốt
165
41
24,85c
Tổng
549
203
36,98
Bảng 5 cho thấy: gà được nuôi theo phương thức
bán chăn thả có tỷ lệ nhiễm bệnh đầu đen cao nhất
(46,05%), sau đó đến phương thức chăn thả hoàn
toàn (37,28%) và thấp nhất ở gà nuôi theo phương
thức nuôi nhốt (24,85%). Theo chúng tôi, nguyên
nhân là do phương thức nuôi chăn thả hoàn toàn và
bán chăn thả là phương thức chăn nuôi mang tính
tận dụng, tình trạng vệ sinh kém, gà được chăn thả ở
vườn, đồi thường xuyên tiếp xúc với phân, đất, có thể
chứa trứng giun kim mang đơn bào H. meleagridis
và nhiều mầm bệnh khác. Vì vậy, gà nuôi ở 2 phương
thức này có tỷ lệ nhiễm H. meleagridis cao. Ngược
lại, gà nuôi theo phương thức nuôi nhốt thường được
nuôi với quy mô đàn khá lớn, từ vài trăm đến vài
nghìn con/ hộ. Các hộ nuôi theo phương thức này
thường quan tâm tới công tác vệ sinh thú y và phòng
75
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXXI SỐ 1 - 2024
bệnh cho đàn gà, do vậy gà nuôi nhốt nhiễm đơn bào
H. meleagridis thấp hơn.
bào H. meleagridis cao nhất ở gà > 1 - 3 tháng tuổi
(58,52%), thấp nhất ở gà dưới 1 tháng tuổi (15,07%).
Đối với phương thức chăn thả hoàn toàn, số
lượng gà ít, lại được nuôi trên diện tích khá rộng,
khả năng gà tiếp xúc với mầm bệnh giảm đi. Đó là
nguyên nhân dẫn đến gà nuôi thả vườn hoàn toàn
có tỷ lệ nhiễm đơn bào H. meleagridis thấp hơn so
với gà nuôi bán chăn thả.
Gà nuôi vào mùa hè có tỷ lệ nhiễm đơn bào H.
meleagridis cao nhất (49,32%), tiếp đến là mùa
xuân (41,35%), mùa thu (32,56%) và thấp nhất là
mùa đông (23,74%).
3.5. Đánh giá hiệu lực của thuốc điều trị bệnh
đầu đen trên gà
Bảng 6. Hiệu lực của phác đồ
điều trị bệnh đầu đen trên gà
Phác đồ
Số gà điều trị Số gà khỏi
(con)
(con)
Tỷ lệ
(%)
1
30
27
90,00
2
30
28
93,33
Tổng
60
55
91,67
Với phác đồ 1: sử dụng Monosulfa S trộn thức ăn
kết hợp với Doxcolis, Vidan – T và bổ sung giải độc
gan, thận, hạ sốt để điều trị cho 30 gà mắc bệnh đầu
đen. Kết quả, sau 10 ngày theo dõi có 27 gà khỏi bệnh
(gà khỏe lại, ăn uống bình thường và không thấy xuất
hiện triệu chứng của bệnh). Hiệu quả điều trị đạt 90%.
Phác đồ 2: sử dụng Comix – Plus trộn thức ăn kết
hợp với Doxcolis, Vidan – T và bổ sung giải độc gan,
thận, hạ sốt để điều trị cho 30 gà mắc bệnh đầu đen.
Kết quả, sau 10 ngày theo dõi có 28 gà khỏi bệnh (gà
khỏe lại, ăn uống bình thường và không thấy xuất hiện
triệu chứng của bệnh). Hiệu quả điều trị đạt 93,33%.
Như vậy, kết quả điều trị bệnh đầu đen bước đầu
cho thấy phác đồ 2 cho hiệu quả điều trị cao hơn
phác đồ 1 và số gà hết triệu chứng nhiều hơn, tuy
nhiên sự khác nhau này chưa có ý nghĩa thống kê.
IV. KẾT LUẬN
Gà được nuôi theo phương thức bán chăn thả
có tỷ lệ nhiễm đơn bào H. meleagridis cao nhất
(46,05%), sau đó đến phương thức chăn thả hoàn
toàn (37,28%) và thấp nhất ở gà nuôi theo phương
thức nuôi nhốt (24,85%).
Hiệu lực điều trị bệnh đầu đen trên gà của 2
phác đồ đạt từ 90 – 93,33%.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Thị Kim Lan, 2012. Ký sinh trùng và bệnh
ký sinh trùng thú y, NXB Nông Nghiệp - Hà Nội,
tr,296 – 301.
2. Lê Văn Năm, 2010. Bệnh viêm Gan
- Ruột truyền nhiễm. Tạp chí khoa
học kỹ thuật thú y, số 3, tập II.
3. Lê Văn Năm, 2011. Bệnh đầu đen ở gà và gà tây. Tạp
chí Khoa học Công nghệ chăn nuôi, tr. 88 - 91.
4. Trương Thị Tính, Nguyễn Thị Kim Lan, Lê Văn Năm,
Đỗ Thị Vân Giang, 2015. Tình hình mắc bệnh đầu đen
ở gà tại tỉnh Thái Nguyên, Bắc Giang. Tạp chí khoa
học Kỹ thuật Thú y, tập XXII, số 3, tr. 53 - 59.
5. Trương Thị Tính, 2016. Nghiên cứu bệnh đầu đen
do đơn bào Histomonas meleagridis gây ra ở gà tại
tỉnh Thái Nguyên, Bắc Giang và biện pháp phòng trị
bệnh. Luận án tiến sĩ thú y - Đại học Thái Nguyên.
6. Trương Thị Tính, Nguyễn Thị Kim Lan, Lê Văn Năm,
Đỗ Thị Vân Giang, Nguyễn Thị Bích Ngà, 2016.
Tương quan giữa tỷ lệ nhiễm giun kim Heterakis
gallinarum với tỷ lệ mắc bệnh đầu đen ở gà. Tạp chí
khoa học Kỹ thuật Thú y, tập XXII, số 2, tr. 64 – 70.
Mổ khám 549 gà nghi mắc bệnh được mổ
khám, có 203 gà nhiễm bệnh chiếm 36,98%.
Trong đó, xã Tân Kim có tỷ lệ nhiễm bệnh cao
nhất (43,59%), tiếp đến là xã Tân Hòa (41,67%),
xã Tân Thành (38,52%), xã Tân Khánh (36,54%)
và thấp nhất là xã Bàn Đạt (22,45%).
7. Nguyễn Văn Thọ, Nguyễn Thị Lan, Đào Lê Anh,
Gà ở các lứa tuổi đều nhiễm đơn bào H.
meleagridis, tuy nhiên gà ở các giai đoạn tuổi khác
nhau có tỷ lệ nhiễm khác nhau. Tỷ lệ nhiễm đơn
Ngày nhận: 31-8-2023
Ngày phản biện: 5-9-2023
Ngày đăng: 1-1-2024
76
Nguyễn Thị Giang, Nguyễn Thị Hồng Chiên, 2017.
Một số đặc điểm dịch tễ của bệnh do Histomonas
meleagridis trên gà nuôi thả vườn tại một số tỉnh
phía Bắc Việt Nam. Tạp chí khoa học Kỹ thuật Thú
y, tập XXIV, số 3, tr. 50 – 57.
 
Trang website được tạo nên để chia sẻ tài nguyên
học tập cho sinh viên nhóm ngành Sinh học - Các nội
dung cập nhật đã được ghi rõ nguồn gốc.
Website chẩn đoán hình ảnh
http://w3.vet.cornell.edu
Website dược lý thú y
http://www.nottingham.ac.uk/nursing/sonet/rlos/bioproc/vd/2.html
Website sách hay
http://www.ebook.edu.vn/






Các ý kiến mới nhất