Chào mừng quý vị đến với website của Phan Thị Hồng Phúc - Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành
viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của
Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
bệnh gumboro trên gà

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn thị chi
Ngày gửi: 13h:33' 05-02-2018
Dung lượng: 8.1 MB
Số lượt tải: 29
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn thị chi
Ngày gửi: 13h:33' 05-02-2018
Dung lượng: 8.1 MB
Số lượt tải: 29
Số lượt thích:
0 người
1
CHUYÊN ĐỀ:
BỆNH GUMBORO Ở GÀ
Giảng Viên: TS. Phan Thị Hồng Phúc
Sinh viên: Nguyễn Thị Chi
Lớp: 47CNTY-MARPHA
Mục lục:
I. Đặt vấn đề
II. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1. Khái niệm
2. Lịch sử địa dư
3. Phân loại
4. Hình thái, cấu trúc
5. Tính chất nuôi cấy
6. Sức đề kháng
7. Loài mắc bệnh
8. Phương thức truyền lây
9. Chất chứa căn bệnh
10. Cơ chế sinh bệnh
Triệu chứng
Bệnh tích
Chẩn đoán
Phòng bệnh
Điều trị
III. Kết luận
2
I. Đặt vấn đề
Bệnh gumbro là một bệnh truyền nhiễm cấp tính nguy hiểm, gây thiệt hại rất lớn cho chăn nuôi gà, kể cả gà nuôi công nghiệp và gà chăn thả vườn.
Tỷ lệ chết của gà bị nhiễm bệnh từ 3-20% nếu không ghép với các bệnh khác và từ 21-100% nếu nhiễm kèm với các bệnh khác gây ra bởi virus, vi khuẩn, ký sinh trùng…
Do tính nguy hiểm của bệnh nên việc phòng ngừa để không tái nhiễm bệnh gumboro trên các địa bàn là rất quan trọng.
3
Ngành kinh tế nông nghiệp gia cầm hiện nay đang gặp nhiều nguy cơ đe dọa quá trình phát triển. Trong đó, dịch bệnh đã ảnh hưởng rất lớn về lợi nhuận, quá trình sản xuất, tình hình chăn nuôi gia cầm trên thế giới cũng như trong nước.
Vì vâỵ vấn đề nghiên cứu để sản xuất vắc xin trị bệnh Gumboro là cần thiết và đã được tiến hành, tạo ra được nhiều loại vắc xin có giá trị.
4
II. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1. Khái niệm
- Bệnh Gumboro là một bệnh truyền nhiễm của gà do virus gây ra. Bệnh chỉ biểu hiện triệu chứng lâm sàng ở giai đoạn 1-12 tuần tuổi, nhưng rõ nhất ở giai đoạn 4-8 tuần tuổi. Trong giai đoạn này tỷ lệ mắc có thể lên tới 100% và chết có thể từ 20-50%.
5
2. Lịch sử địa dư
- Năm 1962, Cosgrove đã phát hiện và mô tả một bệnh mới, xuất hiện ở thành phố Gumboro, vùng Dalaware ở Hoa Kỳ. Bệnh thường thấy trên gà con với bệnh tích thường gặp chủ yếu ở thận và túi Fabricius.
- Lúc đầu, người ta cho rằng, bệnh là biến thể của bệnh viêm phế quản truyền nhiễm (Infectious Bronchitis, IB) vì bệnh tích ở thận tương đối giống nhau. Lúc ấy người ta gọi là bệnh hư thận trên gà do triệu chứng không tái hấp thu được nước tiểu, làm gà tiêu chảy rất nặng, gây mất nước. Về sau bệnh lan dần và hiện nay khắp các châu lục đều có bệnh.
- Sau này, Winterfield và Hitchner đã chứng minh rằng những con gà đã miễn dịch với IB rồi vẫn nhiễm bệnh viêm túi Fabricius.
6
Cuối năm 1962, Winterfield đã phân lập được từ phôi trứng tác nhân gây bệnh truyền nhiễm ở gà (bệnh tích ở túi Fabricius và thận).
Năm 1986-1987, lần đầu tiên những dòng biến thể của IBDV được công bố.
Năm 1987, sự nguy hiểm của IBDV lần đầu tiên được công bố tại Belgium và The Netherlands.
Năm 1970, Hitchner đề nghị tên chính thức cho bệnh này là Infectious Bursal Disease (IBD) hay còn gọi là Gumboro. Virus gây bệnh là Infectious Bursal Disease Virus (IBDV).
7
- Năm 1992, tổ chức thú y thế giới (OIE), đã chính thức công bố tên bệnh, mầm bệnh, các phương pháp chẩn đoán, các loại vắc xin phòng bệnh. Nhưng do virus Gumboro có nhiều biến chủng, tính tương đồng kháng nguyên thấp nên việc phòng chống bệnh chưa được hậu quả.
8
Ở Việt Nam bệnh được phát hiện vào năm 1981 ở một số trại nuôi gà công nghiệp thuộc các tỉnh phía Bắc, nhưng lúc đó chưa được chú ý, vào các năm 1987-1993 bệnh phát triển rất mạnh gây chết rất nhiều gà, từ đó gây được sự chú ý cho các nhà chuyên môn. Nhiều biện pháp phòng bệnh đã được nghiên cứu, tuy nhiên ngày nay việc khống chế bệnh vẫn còn ở phía trước.
9
4.Hình thái, cấu trúc
Virus có dạng hình khối đa diện đều, là loại virus trần không có vỏ bọc ngoài cùng, kích thước khá nhỏ, đương kính 55-65 nm.
Cấu tạo virus đơn giản chỉ gồm nhân chứa ARN và lớp vỏ capside bao bọc bên ngoài, vỏ này có chứa các thành phần kháng nguyên của virus.
Vì không có lớp vỏ bọc lipit nên virus có sức đề kháng cao trong tự nhiên, không mẫn cảm với ether và chloroform.
10
3. Phân loại
- IBD (Infections burasal disease) thuộc họ Birnaviridae. Các virus thuộc họ này đều đặc trưng bởi cấu tạo nhân gồm 2 đoạn ARN sợi đôi, vì vậy tên gọi của họ virus là Birnavirus (bi = hai).
11
Hình thái,cấu trúc virus bệnh Gumboro
12
5. Tính chất nuôi cấy
Virus có thể nuôi cấy trên phôi gà (9-11 ngày tuổi) bằng cách tiêm vào màng nhung niệu. Virus gây chết phôi sau 3-5 ngày. Bệnh tích đặc trưng: màng niệu sung huyết, xuất huyết, sưng dày lên, phôi còi cọc, xuất huyết dưới da, gan xuất huyết và hoại tử, thận hoại tử, lách nhạt màu và có các điểm hoại tử.
Nuôi cấy trên môi trường tế bào phôi gà, gà tây, vịt, thận thỏ, thận khỉ nhưng virus không thích ứng ngay trong lần nuôi cấy đầu tiên và phải qua nhiều lần cấy chuyển.
Nuôi cấy trên động vật: gà 3-6 tuần tuổi, bằng cách nhỏ mắt, nhỏ mũi hoặc nhỏ vào hậu môn. Sau 2-3 ngày gà có các triệu chứng, bệnh tích như ngoài tự nhiên.
13
6. Sức đề kháng
Trong tự nhiên virus có sức đề kháng cao, bị vô hoạt ở độ pH từ 2-12.
Virus bị diệt ở 56oC trong 5h, 60o C trong 30 phút, 70o C virus chết nhanh chóng.
Các chất hóa học thông thường có thể diệt được virus như: formalin 0,5% ( sau 6h); phenol 0,5% (sau 1h); chloramin 0,5% (sau 10 phút ).
Trong phân, rác, chất độn chuồng virus có thể tồn tại khá lâu ( 122 ngày), đây chính là nguồn tàng trữ virus khiến cho bệnh hay xảy ra.
14
7. Loài mắc bệnh
Trong tự nhiên, gà được coi là loài mắc bệnh duy nhất. Tuy nhiên hiện nay 1 số tác giả cho rằng gà tây, vịt cũng bị nhiễm bệnh Gumboro.
Gà 3-9 tuần tuổi (đặc biệt là 3-6 tuần tuổi) cảm nhiễm mạnh nhất.
Trong phòng thí nghiệm: có thể gây bệnh cho gà (3-6 tuần tuổi), hoặc phôi gà (9-11 ngày).
Bệnh xảy ra quanh năm, tập trung nhiều nhất vào vụ đông xuân.
15
8. Phương thức truyền lây
Virus xâm nhập vào cơ thể bằng nhiều đường, chủ yếu qua thức ăn, nước uống, đường tiêu hóa.
Trong phòng thí nghiệm có thể gây bệnh thực nghiệm bằng cách nhỏ mắt, mũi, miệng và nhỏ hậu môn.
Không có bằng chứng cho thấy bệnh Gumboro có khả năng truyền dọc qua trứng.
16
9. Chất chứa căn bệnh
Thận và túi Fabricius, nơi chứa nhiều virus nhất.
Ngoài ra, trong các chất tiết, thức ăn, nước uống,dụng cụ chăn nuôi, chất độn chuồng... cũng chứa virus
17
10. Cơ chế sinh bệnh
Virus xâm nhập qua đường tiêu hóa của gà, xuyên qua màng ruột đến các đại thực bào và cơ quan Lympho của ống tiêu hóa, từ đây Virus theo tĩnh mạch cửa vào gan rồi lan tỏa khắp cơ thể, đến ngày thứ 4 virus có mặt ở các cơ quan sinh bạch cầu, tập trung nhiều nhất ở túi Fabricius.
- Nếu gà nhiễm bệnh từ 1 ngày đến 2 tuần tuổi, do trong máu của gà chưa có các bổ thể virus không tấn công được hệ thống mạch máu và thận, chỉ phá hại túi Fabricius, làm túi này hư hại rồi teo nhỏ, quá trình nuôi dưỡng và thành thục của tế bào Lympho B bị đình trệ, dẫn đến hậu quả làm suy giảm việc tạo kháng thể của cơ thể gà, đây là nguyên nhân chính của việc gà không tạo được miễn dịch mặc dù đã tiêm phòng đầy đủ các bệnh.
18
- Trường hợp nhiễm bệnh sau 2 tuần tuổi, lúc đó trong máu đã có đầy đủ lượng bổ thể virus sẽ phát huy tác dụng gây nên triệu chứng vỡ mạch máu gây xuất huyết nhiều nơi, virus đến thận phá hoại ống thận làm gà không thể tái hấp thu được nước, hậu quả nước từ thận tràn vào trực tràng, gà tiêu chảy rất nặng, gà chết chủ yếu là do mất nước
19
11. Triệu chứng
Thời gian nung bệnh rất ngắn (2-3 ngày).
Sau khi nhiễm bệnh gà có biểu hiện triệu chứng đầu tiên là bay nhảy lung tung, hoặc cắn mổ vào hậu môn của nhau, giảm ăn, lông xù, lờ đờ, đi run rẩy.
20
- Bị tiêu chảy phân màu trắng, loãng có nhiều chất nhầy, sau đó chuyển sang màu nâu, phân dính đầy xung quanh hậu môn, trọng lượng giảm nhanh
21
- Gà mắc bệnh Gumboro lúc đầu có thể sốt nhẹ, sau tăng cao rồi giảm và chết sau vài ngày, bệnh này dễ chẩn doán phân biệt so với bệnh Newcastle và Cúm gia cầm ở túi Fabricius và hệ cơ (Túi Fabricius lúc đầu sưng to sau giảm dần chỉ còn bằng 1/3 lúc bình thường, hệ cơ xuất huyết thành vệt).
22
12. Bệnh tích
Mổ gà mắc bệnh Gumboro, ngày đầu mới phát bệnh thấy túi Fabrricius sưng to và có nhiều dịch nhầy trắng.
Mổ ngày thứ hai, thứ ba phát bệnh thấy túi khí Fabricius sưng đỏ, xuất huyết lấm tấm, thận sưng nhạt màu, ruột sưng có nhiều dịch nhầy bên trong, tiền mề (phần giáp ranh giữa dạ dày tuyến và dạ dày cơ) xuất huyết vệt, ơ đùi và ngực xuất huyết vệt đỏ hoặc thâm đen.
Xong mổ gà bị bệnh ở ngày thứ 5,6,7 thấy túi Fabricius teo nhỏ lại, cơ đùi và ngực bầm tím từng vệt, xác gà nhợt nhạt.
23
Hình ảnh bệnh tích, mổ khám khi gà mắc bệnh
24
Túi Fabricius sưng xuất huyết
Xuất huyết cơ ngực
25
13. Chẩn đoán
* Chẩn đoán lâm sàng
- Dựa vào triệu chứng bệnh tích ta có thể chẩn đoán được bệnh 1 cách dễ dàng.
- Tuy nhiên phải chẩn đoán phân biệt được với các bệnh như: Newcastle, viêm phế quản truyền nhiễm IB, marek’s, tụ huyết trùng…
26
- Bệnh Newcastle: Triệu chứng giống Gumboro, ủ rũ, phân trắng. Bệnh tích giống Gumboro có xuất huyết tiền mề. Nhưng bệnh Newcastle không sưng, không xuất huyết và không teo túi Fabricius và cũng không xuất huyết cơ ngực và cơ đùi.Diễn biến bệnh Newcastle kéo dài còn Gumboro chỉ xảy ra trong vòng 5-10 ngày là kết thúc.
- Bệnh cúm gà: Triệu chứng giống Gumboro là xù lông, phát triển bệnh nhanh. Bệnh tích cũng xuất huyết tiền mề. Nhưng lại không sưng và xuất huyết túi Fabricius. Còn Gumboro lại không sưng phù đầu.
27
* Chẩn đoán virus học
Túi fabricius và lách của gà nghi mắc bệnh được sử dụng để chẩn đoán.
* Chẩn đoán huyết thanh học
Gồm phản ứng: AGP, trung hòa, ELISA.
Hiện nay, kĩ thuật RT-PCR được ứng dụng để chẩn đoán bệnh với độ nhạy cao nhất.
28
14. Phòng bệnh
* Vệ sinh phòng bệnh
Xử lý chuồng trại định kỳ mỗi tháng và sau mỗi đợt nuôi bằng Chloramin 0,5% trong 10 phút. Nếu chuồng nuôi đã bị bệnh thì xử lý mỗi tuần 1 lần và sau 2-3 tháng mới được bắt gà mới về nuôi.
Cách xa khu vực dân cư, phải có rào ngăn cách.
29
* Phòng bệnh bằng vắc xin
Hiện nay có rất nhiều loại vacxin phòng bệnh Gumboro. Thông thường ở những đàn gà hướng thịt người ta có thể cho gà uống vacxin nhược độc Gumboro hai lần vào lúc 7 – 10 ngày tuổi và lúc 21 – 25 ngày tuổi. Với gà con 1 ngày tuổi: Cho uống vacxin Gumboro nhược độc nhằm đưa virut Gumboro nhược độc vào chiếm chỗ túi Fabricius. Cũng có hướng dẫn: dùng vacxin Gumboro vô hoạt nhũ dầu tiêm cho đàn gà bố mẹ để gà con nở ra có kháng thể thụ động trong máu. Với đàn gà bố mẹ, ngoài hai lần uống vacxin nhược độc như trên thì vào lúc hai tháng tuổi tiêm vacxin Gumboro vô hoạt nhũ dầu và trước khi gà đẻ bói (4-5 tháng tuổi) tiêm nhắc lại lần hai.
30
- Chỉ phòng bệnh bằng vắc xin, không dùng kháng thể để phòng bệnh. Nâng cao sức đề kháng và miễn dịch không đặc hiệu để làm +giảm độ mẫn cảm với mầm bệnh bằng ĐIỆN GIẢI-GLUCO K - C, đặc biệt những khi thay đổi thời tiết và khi sức khỏe giảm sút.
31
15. Điều trị
- Vì bệnh do virus gây ra nên không có thuốc điều trị đặc hiệu.
- Bệnh gumboro nếu có phát hiện kịp thời, biết cách chữa khoa học thì khả năng khỏi bệnh rất cao, nên phải kết hợp hài hòa giữa các yếu tố: hạ sốt, cung cấp điện giải, chống xuất huyết, giải độc, tiêu viêm, trợ sức, trợ lực, chống bệnh kế phát.
32
Gà mắc bệnh thường có 8 nguyên nhân chính làm cho gà bệnh chết nhanh hơn và nhiều hơn, nên khi chữa gà mắc bệnh Gumboro cần can thiệp cả 8 nguyên nhân đó là:
- Chết khát (khi chữa cần bơm nước hoặc bơm thuốc thẳng vào diều tránh bị sặc, gà không tự uống được)
- Sốt cao ( Khi chữa cần có thuốc hạ sốt như: Paracetamol, Anagin…)
- Mất cân bằng chất điện giải ( Khi chữa cần bổ sung các chất điện giải chống mất nước)
- Bị viêm các phủ tạng (khi chữa cần có thuốc kháng viêm)
- Xuất huyết cơ đùi, cơ ngực, túi Fabricius và phủ tạng (khi chữa cần bổ sung vitamin K)
- Kiệt sức (Khi chữa cần bổ sung đường và cung cấp năng lượng)
- Mất sức đề kháng (khi chữa cần bổ sung vitamin C, các thuốc bổ nâng cao sức đề kháng).
- Kế phát các bệnh do vi trùng, virus, kí sinh trùng (khi chữa cần chọn kháng sinh phổ rộng, chữa đúng bệnh kế phát).
33
Như vậy khi chữa bệnh Gumboro cần những bước sau:
Bước 1: Hòa PARAMAR – 20% 1 g/6-10kg TT/ngày, pha cho cả đàn uống trong 24-36 giờ đầu. Những con yếu sẽ bơm thẳng trực tiếp vào diều, mỗi con 3-5 ml, sau 2-3 tiếng bơm lại lần 2, lần 3 (thường sau 2 lần bơm) gà sẽ tự đứng dậy, tự ăn, tự uống được.
Bước 2: Sau 24-36 giờ cho uống PARAMAR-20%, tiếp tục cho uống AMOX-COLIS 1g/2 lít nước hoặc MARCOC – E.COLI 1g/2-3 lít nước uống.
34
Phác đồ 1:
Giải pháp số 1 chữa bệnh Gumboro kế phát hen ghép ký sinh trùng đường máu, bệnh đầu đen, cầu trùng ghép tiêu chảy:
Sử dụng A TO Z MAR 1g/3-4 lít nước tương đương 1g/15-20kg TT kết hợp với PARAMAR-20% 1g/6-10kg TT ngày. Dùng liên tục trong 3-5 ngày.
CÁCH ĐIỀU TRỊ BỆNH GUMBORO KẾ PHÁT
35
* Phác đồ 2:
Chữa bệnh Gumboro kế phát E.coli ghép tụ huyết trùng tiêu chảy:
Sử dụng AMOX-COLIS 2g/ 1 lít nước tương đương 1g/12-15 kg TT kết hợp với 39-VITA-AMIN 1g/2-3 lít nước uống. Dùng liên tục trong 3-5 ngày.
36
*Phác đồ 3:
Chữa bệnh Gumboro kế phát ký sinh trùng đường máu, bệnh đầu đen ghép cầu trùng, ghép E.coli, ghép tụ huyết trùng, tiêu chảy:
Sử dụng COLI 102 1g/5-7kgTT tương đương 2g/ lít nước uống kết hợp với SORBITOL-MAR 1g/1,5-2 lít nước uống. Dùng liên tục trong 3-5 ngày.
*Phác đồ 4:
Chữa bệnh Gumboro kết phát cầu trùng ghép E.coli, ghép tụ huyết trùng, ghép tiêu chảy:
Sử dụng MARCOC-E.COLI 1g/2 lít nước tương đương 1g/12-15kg TT/ngày kết hợp với PARAMAR-20% 1g/6-10kg TT/ngày. Dùng liên tục trong 3-5 ngày.
* Phác đồ 5:
Chữa bệnh Gumboro kế phát hen ghép E.coli, ghép tụ huyết trùng, ghép tiêu chảy:
Sử dụng MARPHAMOX 50% 1g/6-8 lít nước tương đương với 1g/25-30kg thức ăn kết hợp với 39-VITA-AMIN1g/2-3 lít nước uống. Dùng liên tục trong 3-5 ngày.
37
* Phác đồ 6:
Phác đồ chữa bệnh Gumboro kế phát hen E.coli, ghép tụ huyết, tiêu chảy:
Sử dụng DOXY-TYLAN 1g/2 lít nước tương đương 1g/8-10kg TT. Dùng liên tục trong 3-5 ngày.
38
* Phác đồ 7:
Chữa Gumboro kế phát hen ghép E.coli, ghép tụ huyết trùng, tiêu chảy:
Sử dụng DOXY 50% 1g/10 lít nước tương đương 1g/50-60 kg TT/ngày. Bổ sung thêm ĐIỆN GIẢI – GLUCO – K – C với liều 2g/ lít nước uống tương đương 100g/40kg thức ăn.
39
* Phác đồ 8:
Chữa bệnh Gumboro kế phát kí sinh trùng đường máu, ghép bệnh đầu đen, ghép cầu trùng, ghép E.coli, ghép tụ huyết trùng, ghép tiêu chảy.
Sử dụng METHOCIN TRI 1ml/2 lít nước tương đương 1ml/8-12 kg TT/ngày kết hợp với FLORCOLIHEN 1ml/3 lít nước, tương đương 1ml/ 12-15kg TT/ngày. Dùng liên tục trong 3-5 ngày.
40
III. Kết luận
Việc tìm hiểu về nguyên nhân, cơ chế
sinh bệnh, đường lây lan, triệu chứng, bệnh tích
của bệnh Gumboro là một việc làm cần thiết và
hết sức có ý nghĩa. Giúp cho bác sỹ thú y trong
việc chẩn đoán nhanh và có biện pháp khống chế
dịch bệnh và đưa ra những phác đồ điều trị phù
hợp. Từ đó sẽ ngăn chặn sự lây lan mầm bệnh
trong đàn và giữa các vùng. Giảm thiệt hại đáng
kể cho người chăn nuôi, nâng cao phẩm chất và
sản lượng thịt, tạo ra những sản phẩm sạch, an
toàn cung cấp cho người tiêu dùng.
41
42
Tài liệu tham khảo
GS.TS. Nguyễn Thị Kim Lan, TS. Nguyễn Văn Quang (2016), bài giảng bệnh truyền nhiễm thú y, nhà xuất bản ĐH Thái Nguyên
http://www.vietdvm.com/tai-lieu.html
http://marphavet.com/vi/news/Benh-Dieu-Tri/Benh-Gumboro-o-ga-Infectious-Bursal-Disease-13/
43
Thank you
CHUYÊN ĐỀ:
BỆNH GUMBORO Ở GÀ
Giảng Viên: TS. Phan Thị Hồng Phúc
Sinh viên: Nguyễn Thị Chi
Lớp: 47CNTY-MARPHA
Mục lục:
I. Đặt vấn đề
II. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1. Khái niệm
2. Lịch sử địa dư
3. Phân loại
4. Hình thái, cấu trúc
5. Tính chất nuôi cấy
6. Sức đề kháng
7. Loài mắc bệnh
8. Phương thức truyền lây
9. Chất chứa căn bệnh
10. Cơ chế sinh bệnh
Triệu chứng
Bệnh tích
Chẩn đoán
Phòng bệnh
Điều trị
III. Kết luận
2
I. Đặt vấn đề
Bệnh gumbro là một bệnh truyền nhiễm cấp tính nguy hiểm, gây thiệt hại rất lớn cho chăn nuôi gà, kể cả gà nuôi công nghiệp và gà chăn thả vườn.
Tỷ lệ chết của gà bị nhiễm bệnh từ 3-20% nếu không ghép với các bệnh khác và từ 21-100% nếu nhiễm kèm với các bệnh khác gây ra bởi virus, vi khuẩn, ký sinh trùng…
Do tính nguy hiểm của bệnh nên việc phòng ngừa để không tái nhiễm bệnh gumboro trên các địa bàn là rất quan trọng.
3
Ngành kinh tế nông nghiệp gia cầm hiện nay đang gặp nhiều nguy cơ đe dọa quá trình phát triển. Trong đó, dịch bệnh đã ảnh hưởng rất lớn về lợi nhuận, quá trình sản xuất, tình hình chăn nuôi gia cầm trên thế giới cũng như trong nước.
Vì vâỵ vấn đề nghiên cứu để sản xuất vắc xin trị bệnh Gumboro là cần thiết và đã được tiến hành, tạo ra được nhiều loại vắc xin có giá trị.
4
II. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1. Khái niệm
- Bệnh Gumboro là một bệnh truyền nhiễm của gà do virus gây ra. Bệnh chỉ biểu hiện triệu chứng lâm sàng ở giai đoạn 1-12 tuần tuổi, nhưng rõ nhất ở giai đoạn 4-8 tuần tuổi. Trong giai đoạn này tỷ lệ mắc có thể lên tới 100% và chết có thể từ 20-50%.
5
2. Lịch sử địa dư
- Năm 1962, Cosgrove đã phát hiện và mô tả một bệnh mới, xuất hiện ở thành phố Gumboro, vùng Dalaware ở Hoa Kỳ. Bệnh thường thấy trên gà con với bệnh tích thường gặp chủ yếu ở thận và túi Fabricius.
- Lúc đầu, người ta cho rằng, bệnh là biến thể của bệnh viêm phế quản truyền nhiễm (Infectious Bronchitis, IB) vì bệnh tích ở thận tương đối giống nhau. Lúc ấy người ta gọi là bệnh hư thận trên gà do triệu chứng không tái hấp thu được nước tiểu, làm gà tiêu chảy rất nặng, gây mất nước. Về sau bệnh lan dần và hiện nay khắp các châu lục đều có bệnh.
- Sau này, Winterfield và Hitchner đã chứng minh rằng những con gà đã miễn dịch với IB rồi vẫn nhiễm bệnh viêm túi Fabricius.
6
Cuối năm 1962, Winterfield đã phân lập được từ phôi trứng tác nhân gây bệnh truyền nhiễm ở gà (bệnh tích ở túi Fabricius và thận).
Năm 1986-1987, lần đầu tiên những dòng biến thể của IBDV được công bố.
Năm 1987, sự nguy hiểm của IBDV lần đầu tiên được công bố tại Belgium và The Netherlands.
Năm 1970, Hitchner đề nghị tên chính thức cho bệnh này là Infectious Bursal Disease (IBD) hay còn gọi là Gumboro. Virus gây bệnh là Infectious Bursal Disease Virus (IBDV).
7
- Năm 1992, tổ chức thú y thế giới (OIE), đã chính thức công bố tên bệnh, mầm bệnh, các phương pháp chẩn đoán, các loại vắc xin phòng bệnh. Nhưng do virus Gumboro có nhiều biến chủng, tính tương đồng kháng nguyên thấp nên việc phòng chống bệnh chưa được hậu quả.
8
Ở Việt Nam bệnh được phát hiện vào năm 1981 ở một số trại nuôi gà công nghiệp thuộc các tỉnh phía Bắc, nhưng lúc đó chưa được chú ý, vào các năm 1987-1993 bệnh phát triển rất mạnh gây chết rất nhiều gà, từ đó gây được sự chú ý cho các nhà chuyên môn. Nhiều biện pháp phòng bệnh đã được nghiên cứu, tuy nhiên ngày nay việc khống chế bệnh vẫn còn ở phía trước.
9
4.Hình thái, cấu trúc
Virus có dạng hình khối đa diện đều, là loại virus trần không có vỏ bọc ngoài cùng, kích thước khá nhỏ, đương kính 55-65 nm.
Cấu tạo virus đơn giản chỉ gồm nhân chứa ARN và lớp vỏ capside bao bọc bên ngoài, vỏ này có chứa các thành phần kháng nguyên của virus.
Vì không có lớp vỏ bọc lipit nên virus có sức đề kháng cao trong tự nhiên, không mẫn cảm với ether và chloroform.
10
3. Phân loại
- IBD (Infections burasal disease) thuộc họ Birnaviridae. Các virus thuộc họ này đều đặc trưng bởi cấu tạo nhân gồm 2 đoạn ARN sợi đôi, vì vậy tên gọi của họ virus là Birnavirus (bi = hai).
11
Hình thái,cấu trúc virus bệnh Gumboro
12
5. Tính chất nuôi cấy
Virus có thể nuôi cấy trên phôi gà (9-11 ngày tuổi) bằng cách tiêm vào màng nhung niệu. Virus gây chết phôi sau 3-5 ngày. Bệnh tích đặc trưng: màng niệu sung huyết, xuất huyết, sưng dày lên, phôi còi cọc, xuất huyết dưới da, gan xuất huyết và hoại tử, thận hoại tử, lách nhạt màu và có các điểm hoại tử.
Nuôi cấy trên môi trường tế bào phôi gà, gà tây, vịt, thận thỏ, thận khỉ nhưng virus không thích ứng ngay trong lần nuôi cấy đầu tiên và phải qua nhiều lần cấy chuyển.
Nuôi cấy trên động vật: gà 3-6 tuần tuổi, bằng cách nhỏ mắt, nhỏ mũi hoặc nhỏ vào hậu môn. Sau 2-3 ngày gà có các triệu chứng, bệnh tích như ngoài tự nhiên.
13
6. Sức đề kháng
Trong tự nhiên virus có sức đề kháng cao, bị vô hoạt ở độ pH từ 2-12.
Virus bị diệt ở 56oC trong 5h, 60o C trong 30 phút, 70o C virus chết nhanh chóng.
Các chất hóa học thông thường có thể diệt được virus như: formalin 0,5% ( sau 6h); phenol 0,5% (sau 1h); chloramin 0,5% (sau 10 phút ).
Trong phân, rác, chất độn chuồng virus có thể tồn tại khá lâu ( 122 ngày), đây chính là nguồn tàng trữ virus khiến cho bệnh hay xảy ra.
14
7. Loài mắc bệnh
Trong tự nhiên, gà được coi là loài mắc bệnh duy nhất. Tuy nhiên hiện nay 1 số tác giả cho rằng gà tây, vịt cũng bị nhiễm bệnh Gumboro.
Gà 3-9 tuần tuổi (đặc biệt là 3-6 tuần tuổi) cảm nhiễm mạnh nhất.
Trong phòng thí nghiệm: có thể gây bệnh cho gà (3-6 tuần tuổi), hoặc phôi gà (9-11 ngày).
Bệnh xảy ra quanh năm, tập trung nhiều nhất vào vụ đông xuân.
15
8. Phương thức truyền lây
Virus xâm nhập vào cơ thể bằng nhiều đường, chủ yếu qua thức ăn, nước uống, đường tiêu hóa.
Trong phòng thí nghiệm có thể gây bệnh thực nghiệm bằng cách nhỏ mắt, mũi, miệng và nhỏ hậu môn.
Không có bằng chứng cho thấy bệnh Gumboro có khả năng truyền dọc qua trứng.
16
9. Chất chứa căn bệnh
Thận và túi Fabricius, nơi chứa nhiều virus nhất.
Ngoài ra, trong các chất tiết, thức ăn, nước uống,dụng cụ chăn nuôi, chất độn chuồng... cũng chứa virus
17
10. Cơ chế sinh bệnh
Virus xâm nhập qua đường tiêu hóa của gà, xuyên qua màng ruột đến các đại thực bào và cơ quan Lympho của ống tiêu hóa, từ đây Virus theo tĩnh mạch cửa vào gan rồi lan tỏa khắp cơ thể, đến ngày thứ 4 virus có mặt ở các cơ quan sinh bạch cầu, tập trung nhiều nhất ở túi Fabricius.
- Nếu gà nhiễm bệnh từ 1 ngày đến 2 tuần tuổi, do trong máu của gà chưa có các bổ thể virus không tấn công được hệ thống mạch máu và thận, chỉ phá hại túi Fabricius, làm túi này hư hại rồi teo nhỏ, quá trình nuôi dưỡng và thành thục của tế bào Lympho B bị đình trệ, dẫn đến hậu quả làm suy giảm việc tạo kháng thể của cơ thể gà, đây là nguyên nhân chính của việc gà không tạo được miễn dịch mặc dù đã tiêm phòng đầy đủ các bệnh.
18
- Trường hợp nhiễm bệnh sau 2 tuần tuổi, lúc đó trong máu đã có đầy đủ lượng bổ thể virus sẽ phát huy tác dụng gây nên triệu chứng vỡ mạch máu gây xuất huyết nhiều nơi, virus đến thận phá hoại ống thận làm gà không thể tái hấp thu được nước, hậu quả nước từ thận tràn vào trực tràng, gà tiêu chảy rất nặng, gà chết chủ yếu là do mất nước
19
11. Triệu chứng
Thời gian nung bệnh rất ngắn (2-3 ngày).
Sau khi nhiễm bệnh gà có biểu hiện triệu chứng đầu tiên là bay nhảy lung tung, hoặc cắn mổ vào hậu môn của nhau, giảm ăn, lông xù, lờ đờ, đi run rẩy.
20
- Bị tiêu chảy phân màu trắng, loãng có nhiều chất nhầy, sau đó chuyển sang màu nâu, phân dính đầy xung quanh hậu môn, trọng lượng giảm nhanh
21
- Gà mắc bệnh Gumboro lúc đầu có thể sốt nhẹ, sau tăng cao rồi giảm và chết sau vài ngày, bệnh này dễ chẩn doán phân biệt so với bệnh Newcastle và Cúm gia cầm ở túi Fabricius và hệ cơ (Túi Fabricius lúc đầu sưng to sau giảm dần chỉ còn bằng 1/3 lúc bình thường, hệ cơ xuất huyết thành vệt).
22
12. Bệnh tích
Mổ gà mắc bệnh Gumboro, ngày đầu mới phát bệnh thấy túi Fabrricius sưng to và có nhiều dịch nhầy trắng.
Mổ ngày thứ hai, thứ ba phát bệnh thấy túi khí Fabricius sưng đỏ, xuất huyết lấm tấm, thận sưng nhạt màu, ruột sưng có nhiều dịch nhầy bên trong, tiền mề (phần giáp ranh giữa dạ dày tuyến và dạ dày cơ) xuất huyết vệt, ơ đùi và ngực xuất huyết vệt đỏ hoặc thâm đen.
Xong mổ gà bị bệnh ở ngày thứ 5,6,7 thấy túi Fabricius teo nhỏ lại, cơ đùi và ngực bầm tím từng vệt, xác gà nhợt nhạt.
23
Hình ảnh bệnh tích, mổ khám khi gà mắc bệnh
24
Túi Fabricius sưng xuất huyết
Xuất huyết cơ ngực
25
13. Chẩn đoán
* Chẩn đoán lâm sàng
- Dựa vào triệu chứng bệnh tích ta có thể chẩn đoán được bệnh 1 cách dễ dàng.
- Tuy nhiên phải chẩn đoán phân biệt được với các bệnh như: Newcastle, viêm phế quản truyền nhiễm IB, marek’s, tụ huyết trùng…
26
- Bệnh Newcastle: Triệu chứng giống Gumboro, ủ rũ, phân trắng. Bệnh tích giống Gumboro có xuất huyết tiền mề. Nhưng bệnh Newcastle không sưng, không xuất huyết và không teo túi Fabricius và cũng không xuất huyết cơ ngực và cơ đùi.Diễn biến bệnh Newcastle kéo dài còn Gumboro chỉ xảy ra trong vòng 5-10 ngày là kết thúc.
- Bệnh cúm gà: Triệu chứng giống Gumboro là xù lông, phát triển bệnh nhanh. Bệnh tích cũng xuất huyết tiền mề. Nhưng lại không sưng và xuất huyết túi Fabricius. Còn Gumboro lại không sưng phù đầu.
27
* Chẩn đoán virus học
Túi fabricius và lách của gà nghi mắc bệnh được sử dụng để chẩn đoán.
* Chẩn đoán huyết thanh học
Gồm phản ứng: AGP, trung hòa, ELISA.
Hiện nay, kĩ thuật RT-PCR được ứng dụng để chẩn đoán bệnh với độ nhạy cao nhất.
28
14. Phòng bệnh
* Vệ sinh phòng bệnh
Xử lý chuồng trại định kỳ mỗi tháng và sau mỗi đợt nuôi bằng Chloramin 0,5% trong 10 phút. Nếu chuồng nuôi đã bị bệnh thì xử lý mỗi tuần 1 lần và sau 2-3 tháng mới được bắt gà mới về nuôi.
Cách xa khu vực dân cư, phải có rào ngăn cách.
29
* Phòng bệnh bằng vắc xin
Hiện nay có rất nhiều loại vacxin phòng bệnh Gumboro. Thông thường ở những đàn gà hướng thịt người ta có thể cho gà uống vacxin nhược độc Gumboro hai lần vào lúc 7 – 10 ngày tuổi và lúc 21 – 25 ngày tuổi. Với gà con 1 ngày tuổi: Cho uống vacxin Gumboro nhược độc nhằm đưa virut Gumboro nhược độc vào chiếm chỗ túi Fabricius. Cũng có hướng dẫn: dùng vacxin Gumboro vô hoạt nhũ dầu tiêm cho đàn gà bố mẹ để gà con nở ra có kháng thể thụ động trong máu. Với đàn gà bố mẹ, ngoài hai lần uống vacxin nhược độc như trên thì vào lúc hai tháng tuổi tiêm vacxin Gumboro vô hoạt nhũ dầu và trước khi gà đẻ bói (4-5 tháng tuổi) tiêm nhắc lại lần hai.
30
- Chỉ phòng bệnh bằng vắc xin, không dùng kháng thể để phòng bệnh. Nâng cao sức đề kháng và miễn dịch không đặc hiệu để làm +giảm độ mẫn cảm với mầm bệnh bằng ĐIỆN GIẢI-GLUCO K - C, đặc biệt những khi thay đổi thời tiết và khi sức khỏe giảm sút.
31
15. Điều trị
- Vì bệnh do virus gây ra nên không có thuốc điều trị đặc hiệu.
- Bệnh gumboro nếu có phát hiện kịp thời, biết cách chữa khoa học thì khả năng khỏi bệnh rất cao, nên phải kết hợp hài hòa giữa các yếu tố: hạ sốt, cung cấp điện giải, chống xuất huyết, giải độc, tiêu viêm, trợ sức, trợ lực, chống bệnh kế phát.
32
Gà mắc bệnh thường có 8 nguyên nhân chính làm cho gà bệnh chết nhanh hơn và nhiều hơn, nên khi chữa gà mắc bệnh Gumboro cần can thiệp cả 8 nguyên nhân đó là:
- Chết khát (khi chữa cần bơm nước hoặc bơm thuốc thẳng vào diều tránh bị sặc, gà không tự uống được)
- Sốt cao ( Khi chữa cần có thuốc hạ sốt như: Paracetamol, Anagin…)
- Mất cân bằng chất điện giải ( Khi chữa cần bổ sung các chất điện giải chống mất nước)
- Bị viêm các phủ tạng (khi chữa cần có thuốc kháng viêm)
- Xuất huyết cơ đùi, cơ ngực, túi Fabricius và phủ tạng (khi chữa cần bổ sung vitamin K)
- Kiệt sức (Khi chữa cần bổ sung đường và cung cấp năng lượng)
- Mất sức đề kháng (khi chữa cần bổ sung vitamin C, các thuốc bổ nâng cao sức đề kháng).
- Kế phát các bệnh do vi trùng, virus, kí sinh trùng (khi chữa cần chọn kháng sinh phổ rộng, chữa đúng bệnh kế phát).
33
Như vậy khi chữa bệnh Gumboro cần những bước sau:
Bước 1: Hòa PARAMAR – 20% 1 g/6-10kg TT/ngày, pha cho cả đàn uống trong 24-36 giờ đầu. Những con yếu sẽ bơm thẳng trực tiếp vào diều, mỗi con 3-5 ml, sau 2-3 tiếng bơm lại lần 2, lần 3 (thường sau 2 lần bơm) gà sẽ tự đứng dậy, tự ăn, tự uống được.
Bước 2: Sau 24-36 giờ cho uống PARAMAR-20%, tiếp tục cho uống AMOX-COLIS 1g/2 lít nước hoặc MARCOC – E.COLI 1g/2-3 lít nước uống.
34
Phác đồ 1:
Giải pháp số 1 chữa bệnh Gumboro kế phát hen ghép ký sinh trùng đường máu, bệnh đầu đen, cầu trùng ghép tiêu chảy:
Sử dụng A TO Z MAR 1g/3-4 lít nước tương đương 1g/15-20kg TT kết hợp với PARAMAR-20% 1g/6-10kg TT ngày. Dùng liên tục trong 3-5 ngày.
CÁCH ĐIỀU TRỊ BỆNH GUMBORO KẾ PHÁT
35
* Phác đồ 2:
Chữa bệnh Gumboro kế phát E.coli ghép tụ huyết trùng tiêu chảy:
Sử dụng AMOX-COLIS 2g/ 1 lít nước tương đương 1g/12-15 kg TT kết hợp với 39-VITA-AMIN 1g/2-3 lít nước uống. Dùng liên tục trong 3-5 ngày.
36
*Phác đồ 3:
Chữa bệnh Gumboro kế phát ký sinh trùng đường máu, bệnh đầu đen ghép cầu trùng, ghép E.coli, ghép tụ huyết trùng, tiêu chảy:
Sử dụng COLI 102 1g/5-7kgTT tương đương 2g/ lít nước uống kết hợp với SORBITOL-MAR 1g/1,5-2 lít nước uống. Dùng liên tục trong 3-5 ngày.
*Phác đồ 4:
Chữa bệnh Gumboro kết phát cầu trùng ghép E.coli, ghép tụ huyết trùng, ghép tiêu chảy:
Sử dụng MARCOC-E.COLI 1g/2 lít nước tương đương 1g/12-15kg TT/ngày kết hợp với PARAMAR-20% 1g/6-10kg TT/ngày. Dùng liên tục trong 3-5 ngày.
* Phác đồ 5:
Chữa bệnh Gumboro kế phát hen ghép E.coli, ghép tụ huyết trùng, ghép tiêu chảy:
Sử dụng MARPHAMOX 50% 1g/6-8 lít nước tương đương với 1g/25-30kg thức ăn kết hợp với 39-VITA-AMIN1g/2-3 lít nước uống. Dùng liên tục trong 3-5 ngày.
37
* Phác đồ 6:
Phác đồ chữa bệnh Gumboro kế phát hen E.coli, ghép tụ huyết, tiêu chảy:
Sử dụng DOXY-TYLAN 1g/2 lít nước tương đương 1g/8-10kg TT. Dùng liên tục trong 3-5 ngày.
38
* Phác đồ 7:
Chữa Gumboro kế phát hen ghép E.coli, ghép tụ huyết trùng, tiêu chảy:
Sử dụng DOXY 50% 1g/10 lít nước tương đương 1g/50-60 kg TT/ngày. Bổ sung thêm ĐIỆN GIẢI – GLUCO – K – C với liều 2g/ lít nước uống tương đương 100g/40kg thức ăn.
39
* Phác đồ 8:
Chữa bệnh Gumboro kế phát kí sinh trùng đường máu, ghép bệnh đầu đen, ghép cầu trùng, ghép E.coli, ghép tụ huyết trùng, ghép tiêu chảy.
Sử dụng METHOCIN TRI 1ml/2 lít nước tương đương 1ml/8-12 kg TT/ngày kết hợp với FLORCOLIHEN 1ml/3 lít nước, tương đương 1ml/ 12-15kg TT/ngày. Dùng liên tục trong 3-5 ngày.
40
III. Kết luận
Việc tìm hiểu về nguyên nhân, cơ chế
sinh bệnh, đường lây lan, triệu chứng, bệnh tích
của bệnh Gumboro là một việc làm cần thiết và
hết sức có ý nghĩa. Giúp cho bác sỹ thú y trong
việc chẩn đoán nhanh và có biện pháp khống chế
dịch bệnh và đưa ra những phác đồ điều trị phù
hợp. Từ đó sẽ ngăn chặn sự lây lan mầm bệnh
trong đàn và giữa các vùng. Giảm thiệt hại đáng
kể cho người chăn nuôi, nâng cao phẩm chất và
sản lượng thịt, tạo ra những sản phẩm sạch, an
toàn cung cấp cho người tiêu dùng.
41
42
Tài liệu tham khảo
GS.TS. Nguyễn Thị Kim Lan, TS. Nguyễn Văn Quang (2016), bài giảng bệnh truyền nhiễm thú y, nhà xuất bản ĐH Thái Nguyên
http://www.vietdvm.com/tai-lieu.html
http://marphavet.com/vi/news/Benh-Dieu-Tri/Benh-Gumboro-o-ga-Infectious-Bursal-Disease-13/
43
Thank you
 
Trang website được tạo nên để chia sẻ tài nguyên
học tập cho sinh viên nhóm ngành Sinh học - Các nội
dung cập nhật đã được ghi rõ nguồn gốc.
Website chẩn đoán hình ảnh
http://w3.vet.cornell.edu
Website dược lý thú y
http://www.nottingham.ac.uk/nursing/sonet/rlos/bioproc/vd/2.html
Website sách hay
http://www.ebook.edu.vn/






Các ý kiến mới nhất